Kết nối với chúng tôi:

Kinh tế

Singapore vượt Mỹ thành nền kinh tế cạnh tranh nhất thế giới

Đã đăng

 ngày

 

Lần đầu tiên trong 9 năm, Singapore đã vượt Hong Kong và Mỹ để chiếm ngôi đầu.

Viện Quản lý phát triển (IMD) có trụ sở tại Thụy Sĩ vừa công bố bảng xếp hạng thường niên các nền kinh tế cạnh tranh nhất thế giới năm 2019. Năm nay, Singapore dẫn đầu nhờ cơ sở hạ tầng về công nghệ tiên tiến, lao động tay nghề cao, luật nhập cư hấp dẫn và tính thuận tiện khi thành lập công ty.

Hong Kong (Trung Quốc) xếp nhì, với môi trường chính sách kinh doanh và thuế dễ chịu, cùng khả năng tiếp cận tài chính tốt. Mỹ tụt hai bậc so với năm ngoái, xuống thứ 3, do sự tự tin từ chính sách giảm thuế năm nay đi xuống và xuất khẩu công nghệ cao yếu đi. Xếp cuối danh sách vẫn là Venezuela.

Các tòa nhà cao tầng tại Singapore. Ảnh: Bloomberg
Các tòa nhà cao tầng tại Singapore. Ảnh: Bloomberg

Các nền kinh tế châu Á – Thái Bình Dương có thứ hạng khá tốt. 11 trên 14 nền kinh tế tại đây giữ nguyên hoặc thăng hạng.

Indonesia có sự cải thiện mạnh nhất trong khu vực, khi tăng 11 bậc lên thứ 32 toàn cầu, nhờ tiến bộ trong hoạt động của chính phủ, cơ sở hạ tầng và điều kiện kinh doanh. Thái Lan tăng 5 bậc lên thứ 25, nhờ đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và hiệu suất lao động tăng. Ngược lại, Nhật Bản tụt 5 bậc do tăng trưởng kinh tế chậm lại, nợ công cao và điều kiện kinh doanh suy giảm.

Tại châu Âu, Anh tụt hạng từ 20 xuống 23, do các bất ổn quanh vấn đề Brexit. Na Uy cũng rơi khỏi top 10. Trong khi đó, vị trí của Thụy Sĩ lại được cải thiện, khi tăng một bậc để tiếp tục là nền kinh tế cạnh tranh nhất châu Âu.

Danh sách của IMD được công bố thường niên từ năm 1989, đánh giá 63 nền kinh tế dựa trên 235 chỉ số. Ngoài các nhóm dữ liệu cứng như tỷ lệ thất nghiệp, tăng trưởng kinh tế và chi tiêu công cho y tế – giáo dục, báo cáo còn đánh giá các dữ liệu mềm, lấy từ khảo sát với lãnh đạo doanh nghiệp quốc tế về độ gắn kết xã hội, toàn cầu hóa hay tham nhũng. Các nền kinh tế được đánh giá theo 4 nhóm lớn – Tình hình kinh tế, Cơ sở vật chất, Hiệu suất của Chính phủ và Hiệu suất của Doanh nghiệp. Trong danh sách các nước được đánh giá không có Việt Nam.  

Hà Thu (theo Bloomberg)

Doanh nghiệp

Bà Lê Diệp Kiều Trang rời Go-Viet sau 6 tháng

Đã đăng

 ngày

Bởi

Sau 5 tháng là tổng giám đốc, bà Lê Diệp Kiều Trang sẽ từ chức, chia tay Go-Viet và để lại ghế trống chưa có người thay.

Thông tin trên vừa được Go-Viet thông báo vào hôm nay (18/9). Theo thông cáo phát đi, bà Trang quyết định lựa chọn hướng đi riêng cho sự nghiệp của mình và công ty “lấy làm tiếc về việc này”. Công ty chưa tiết lộ thời điểm chính xác bà Trang thôi việc.

“Chúng tôi luôn đặt những kế hoạch và dự định kinh doanh hiệu quả nhất với từng thời kỳ lãnh đạo. Tuy nhiên, sau 5 tháng làm việc tại Go-Viet, bà Lê Diệp Kiều Trang (Christy Le) đã quyết định chọn một hướng đi khác. Chúng tôi đã luôn nỗ lực tìm kiếm sự đồng thuận giữa các bên nhưng đã không có kết quả như mong đợi”, Go-Viet cho biết.

Tổng giám đốc Go-Viet - bà Lê Diệp Kiều Trang.
Tổng giám đốc Go-Viet – bà Lê Diệp Kiều Trang.

Sau sự ra đi của bà Trang, Go-Viet khẳng định vẫn tự tin đội ngũ quản lý hiện tại ở Việt Nam, được hỗ trợ bởi đội ngũ chuyên gia quốc tế ở Go-Jek, sẽ đảm bảo cho công ty phát triển thời gian tới.

Bình luận về việc thay đổi nhân sự, Go-Viet cho biết công ty luôn đánh giá cao tinh thần hợp tác và sự tôn trọng đối với từng cá nhân.

Nhận chức Tổng giám đốc Go-Viet từ cuối tháng 4/2019, bà Diệp Kiều Trang, sinh năm 1980, là một nhân vật có tiếng trong giới công nghệ Việt Nam. Tốt nghiệp Học viện Công nghệ Massachusetts, Kiều Trang đầu quân cho công ty tư vấn chiến lược McKinsey. Sau đó, bà cùng chồng là ông Sonny Vũ sáng lập nên Misfit Wearables.

Cuối năm 2015, khi Misfit Wearables được bán cho Fossil Group, Lê Diệp Kiều Trang giữ vị trí Tổng giám đốc Fossil Việt Nam. Đầu tháng 3/2018, bà rút khỏi Fossil Việt Nam để đầu quân cho Facebook. Bà đảm nhận vai trò Giám đốc Facebook Việt Nam đến hết năm 2018.

Về phía Go-Viet, dù mới có mặt ở Việt Nam vừa tròn một năm nhưng đã hai lần thay đổi tổng giám đốc. Hồi cuối tháng 3, công ty này xác nhận ông Nguyễn Vũ Đức rời vị trí tổng giám đốc, bà Nguyễn Bảo Linh cũng chia tay vai trò phó tổng giám đốc phụ trách phát triển. Cả hai nhân vật gắn liền với ngày đầu thành lập của hãng trở thành cố vấn cho Go-Viet, Go-Jek và vẫn làm việc tại Việt Nam.

Viễn Thông – Vnexpress

Đọc tiếp

Doanh nghiệp

Kiểm toán nghi ngờ khoản đầu tư nhiệt điện của Tân Tạo

Đã đăng

 ngày

Bởi

Số phận dự án nhiệt điện Kiên Lương chưa rõ ràng khiến kiểm toán nghi ngờ khả năng thu hồi khoản đầu tư và phải thu của Tân Tạo.

Tại ngày 30/6, Công ty cổ phần Đầu tư và Công nghiệp Tân Tạo ghi nhận khoản đầu tư vào Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển năng lượng Tân Tạo (TEDC) và Công ty cổ phần Năng lượng Tân Tạo 2 (TEC 2) với giá trị lần lượt 1.753 tỷ đồng và 417 tỷ đồng. Đây là hai doanh nghiệp đang sở hữu tổng cộng 86% vốn của chủ đầu tư dự án nhiệt điện Kiên Lương. Ngoài ra, Tân Tạo còn có một khoản phải thu liên quan đến dự án này là hơn 1.342 tỷ đồng.

Phía kiểm toán cho rằng, Tân Tạo chưa đánh giá được khả năng thu hồi các khoản đầu tư và phải thu này do phụ thuộc vào việc dự án có được tiếp tục hay không. Vào ngày lập báo cáo tài chính soát xét, ban lãnh đạo công ty vẫn đang xin các phê duyệt từ cơ quan nhà nước và kết quả sau cùng chưa được xác định.

Phản hồi ý kiến của kiểm toán, phía Tân Tạo cho biết công ty vẫn tiếp tục bám sát cơ quan, ban ngành để kiến nghị Chính phủ đưa dự án này vào quy hoạch điện VII điều chỉnh. Công ty đã đánh giá khả năng thu hồi bằng cách ước tính giá trị thanh lý dự án theo giá bất động sản tại khu vực lân cận. Ước tính khoản tiền thu từ việc thanh lý đủ để hoàn trả nên công ty vẫn ghi nhận số tiền đầu tư theo giá gốc, không bị suy giảm và không trích lập dự phòng. 

Dự án nhiệt điện Kiên Lương được khởi công vào năm 2009, có tổng vốn đầu tư khoảng 2 tỷ USD. Dự án bắt đầu đình trệ sau đó hai năm và có chuyển biến mới khi Thủ tướng cho phép chuyển đổi hình thức đầu tư sang BOT vào tháng 2/2014.

Báo cáo của Bộ Công Thương gửi Thủ tướng vào giữa năm ngoái cho thấy, UBND tỉnh Kiên Giang không liên lạc được với chủ đầu tư là Công ty cổ phần năng lượng Tân Tạo (TEC, công ty thành viên của ITA) để trao đổi, bàn hướng xử lý vướng mắc của dự án. 

Bộ đề xuất hai phương án giải quyết. Một là thu hồi dự án trên cơ sở khẳng định lỗi của chủ đầu tư, ra quyết định thu hồi chủ trương đầu tư và không đàm phán bồi thường. Hai là bổ sung dự án này vào quy hoạch phát triển điện quốc gia 2021 – 2030 có xét đến 2040 (quy hoạch điện VIII) để phát triển theo hình thức BOT, nếu sau khi rà soát các phương án sử dụng nhiên liệu và đánh giá vẫn cần trong cân bằng nhu cầu điện năng quốc gia giai đoạn này.

Phương Đông – Vnexpress

Đọc tiếp

Kinh tế

Nhân viên chi trăm triệu ‘ôm’ trái phiếu cho ngân hàng

Đã đăng

 ngày

Bởi

Không bán được trái phiếu, Minh bỏ tiền túi ra mua rồi cầm cố lại cho chính ngân hàng. Nhờ vậy, nhà băng huy động được vốn còn Minh thì đạt chỉ tiêu.

Đó là cách làm của Minh, nữ nhân viên của một ngân hàng quốc doanh thời gian qua. Cũng như một số đơn vị trong làn sóng phát hành hàng nghìn tỷ đồng trái phiếu từ đầu năm đến nay, ngân hàng của Minh đang đứng trước áp lực tăng vốn trung dài hạn và vốn cấp hai.

Tất cả đều là giấy tờ có giá kỳ hạn ngắn nhất 7 năm. Dù lãi suất theo các ngân hàng tự đánh giá là “khá hấp dẫn” (cao hơn 1-1,5% so với lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng), trái phiếu dạng này chưa thu hút được người gửi tiền Việt Nam. Do đó, ngân hàng Minh đã giao chỉ tiêu bán trái phiếu tới từng chi nhánh, cán bộ để tăng được vốn.

Giao dịch viên ngân hàng kiểm tiền. Ảnh: Anh Tú.
Giao dịch viên ngân hàng kiểm tiền. Ảnh: Anh Tú.

Tùng, nhân viên tín dụng đã nghỉ việc ở một trong bốn ngân hàng thương mại Nhà nước tại Nghệ An cũng kể lại câu chuyện tương tự Minh. Có đợt, anh được giao tới 200 triệu đồng trái phiếu mà không thể huy động từ khách hàng hay người thân. Vợ và bạn bè anh làm việc cho các “Big 4” khác cũng thường được khoán chỉ tiêu ở các đợt phát hành, trung bình từ 100-200 triệu đồng.

“Nếu không bán được thì nhân viên bỏ tiền túi ra mua. Tuy nhiên với số tiền lớn và kỳ hạn dài như vậy thì thông thường chúng tôi sẽ lại vay cầm cố”, anh nói.

Như vậy, trái phiếu đáng lẽ được ngân hàng phát hành để huy động từ dân cư thì lại thông qua các nhân viên của mình và quay trở lại két của nhà băng. Hiện tượng này, chuyên gia tài chính Nguyễn Đức Độ, Viện Kinh tế Tài chính (Bộ Tài chính) cho rằng, sẽ gây ra tình trạng tăng vốn ảo, tín dụng cũng không vào khu vực sản xuất. Điều này chỉ giúp quy mô vốn và tài sản ngân hàng tăng lên về mặt sổ sách, làm đẹp các chỉ số tài chính và hoạt động cho họ.

Còn Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) Nguyễn Đức Thành cho rằng, hiện tượng này sẽ tác động đến nền kinh tế tùy thuộc vào quy mô của trái phiếu mua vào cầm cố có đáng kể hay không.

Trả lời VnExpress, phó tổng giám đốc một trong những ngân hàng tham gia đợt phát hành trái phiếu vừa rồi vẫn khẳng định việc nhân viên ngân hàng mua rồi cầm cố lại trái phiếu không phải chủ trương của họ. “Nếu cho cầm cố lại thì chính ngân hàng mất chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng”, người này nói. Tuy nhiên, vị này xác nhận có thể xuất hiện tình trạng cấp dưới “lách” quy định.

Ông Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV cũng cho rằng, việc phát hành này không đúng bản chất huy động nguồn vốn từ bên ngoài. Thông qua việc nhân viên mua trái phiếu rồi cầm cố, vốn cấp 2 của ngân hàng vẫn tăng nhưng nguồn tiền này không phải huy động từ dân cư.

Thực tế, việc giao KPI (chỉ tiêu) cho nhân viên dựa vào năng lực và vị trí công việc là bình thường ở mọi doanh nghiệp, vì nó mang tính chất san sẻ một phần trách nhiệm hoàn thành công việc chung. Nhân viên vị trí kinh doanh, tiếp xúc với khách hàng nhiều sẽ nhận chỉ tiêu cao hơn so với những người làm kế toán, tài chính, tác nghiệp hỗ trợ phía sau.

Tuy nhiên, ông Cấn Văn Lực cho biết không ủng hộ điều này nếu trái phiếu lại được quay về trong két ngân hàng. Ngoài việc bản thân mỗi nhân viên nỗ lực để hoàn thành chỉ tiêu theo đúng nghĩa, theo ông, một số ngân hàng quá “bí bách” trong việc tăng vốn cấp 2 có thể đề xuất Ngân hàng Nhà nước xem xét giãn lộ trình áp dụng Basel II. Ở chiều ngược lại, các cơ quan chức năng cũng như Bộ Tài chính nên có những giải pháp để tăng vốn cấp 1 cho hệ thống.

Thực tế, các ngân hàng ồ ạt phát hành trái phiếu huy động từ dân cư là nhằm đáp ứng yêu cầu về tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung – dài hạn và hệ số CAR theo yêu cầu của Basel II.

Ông Tiết Văn Thành, Tổng giám đốc Agribank cũng chia sẻ với VnExpress, việc tăng vốn tự có của nhà băng gặp rất nhiều khó khăn nên đã nhiều lần trình các phương án lên Chính phủ. Ông cho biết, trong đợt phát hành trái phiếu tăng vốn đang điển khai, dù khó khăn, Agribank vẫn đặt mục tiêu hoàn thành kế hoạch chào bán 5.000 tỷ đồng.

Theo các phương án Ngân hàng Nhà nước cân nhắc, tới giữa năm 2020, tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn về mức 40%. Không ít nhà băng cho rằng quy định này của cơ quan quản lý đang đưa họ vào thế khó. Bởi thị trường trái phiếu Việt Nam chưa phát triển nên cần có thời gian để thị trường hoàn thiện cũng như thay đổi nhận thức, thói quen của nhà đầu tư cá nhân.

Quỳnh Trang – Vnexpress

Đọc tiếp
Advertisement

Facebook

Advertisement

Tin Nổi bật