Kết nối với chúng tôi:

Kinh tế

Kinh tế Việt Nam vượt Singapore vào 2029: Đâu là sự thật?

Đã đăng

 ngày

 

Năm 2018, Việt Nam đã gây ấn tượng mạnh mẽ với mức tăng trưởng GDP đạt 7,1%, trở thành nền kinh tế tăng trưởng nhanh thứ 2 ở châu Á. Mới đây, báo cáo của DBS dự đoán kinh tế Việt Nam có thể bắt kịp Singapore vào năm 2029 dựa trên một số giả định.

Tổng GDP của Việt Nam sẽ vượt Singapore từ năm 2029 (tỷ USD)?

Hiện tại, tổng GDP của Việt Nam vào khoảng 224 tỷ USD, tương đương 69% so với Singapore (324 tỷ USD), quốc gia đứng thứ 3 bảng xếp hạng GDP sau Indonesia (1.016 tỷ USD) và Thái Lan (455,2 tỷ USD). Nếu Việt Nam giữ được tốc độ tăng trưởng 6-6,5% như dự đoán trong tương lai, còn Singapore vẫn ở mức 2,5% thì DBS dự đoán Việt Nam sẽ bắt kịp Singapore trong bảng xếp hạng GDP vào năm 2029.

Nói cách khác, nếu những giả định của DBS là chính xác thì tổng GDP của Việt Nam sẽ vượt Singapore trong 10 năm nữa.

Dẫu vậy, DBS cũng cảnh báo dự đoán có thể không chính xác khi Việt Nam còn rất nhiều việc phải làm. Ví như tiến trình cổ phần hóa các công ty quốc doanh cũng như mở cửa thị trường tài chính đang bị chậm tiến độ do liên quan đến giải quyết nợ xấu. Hệ thống luật pháp, quy định trong quản lý kinh doanh còn yếu kém khiến nhà đầu tư nước ngoài e ngại…

Tuy nhiên, DBS nhận định đây là những thách thức chung của các nền kinh tế mới nổi và Việt Nam cũng không ngoại lệ. Thậm chí, những tiến bộ của Việt Nam cho thấy nền kinh tế này đã đi đúng hướng và DBS nhận định triển vọng kinh tế Việt Nam trong dài hạn là vô cùng tích cực.

Trâu vàng Việt Nam trỗi dậy

Tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt 7,1% trong năm 2018, đứng thứ 2 ở Châu Á về tốc độ tăng trưởng. Tuy nhiên để đạt thành quả này, Việt Nam đã phải vượt không ít khó khăn.

Cách đây 10 năm, kinh tế Việt Nam đối mặt với tình trạng lạm phát cao tới 28%, tăng trưởng chậm cũng như đồng tiền mất giá, trong khi hệ thống tài chính gặp nhiều rủi ro với những khoản nợ xấu. Việc mở cửa thị trường nhanh chóng sau khi gia nhập Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) cũng như mối liên kết ngày càng lớn với thị trường xuất khẩu Mỹ khiến Việt Nam chịu tổn thương khi cuộc khủng hoảng 2008 diễn ra.

Kinh tế Việt Nam chỉ ổn định lại từ giữa năm 2012 sau khi một số chính sách thắt chặt tiền tệ được chính phủ ban hành.

Tỷ giá VND so với USD và chỉ số giá tiêu dùng đo lạm phát CPI của Việt Nam
Tỷ giá VND so với USD và chỉ số giá tiêu dùng đo lạm phát CPI của Việt Nam

Bài học từ cuộc khủng hoảng 2008 đã khiến công cuộc cải cách nền kinh tế Việt Nam có nhiều biến đổi. Nghị quyết 11 được Chính phủ thông qua đầu năm 2012, tập trung vào việc ổn định nền kinh tế trong khi Kế hoạch phát triển xã hội kinh tế 2011-2015 (SEDP) hướng tới việc cải cách các tập đoàn nhà nước.

Kể từ đó đến nay, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều chuyển biến tích cực. Tăng trưởng bình quân đạt 6,4% trong 3 năm qua, lạm phát được kiểm soát ổn định ở 3,2% cùng kỳ. Điều đáng mừng hơn là Việt Nam bắt đầu vượt nhiều nền kinh tế khác trong khu vực ở một số mặt nhất định.

Theo DBS, điều quan trọng nhất là chính phủ Việt Nam đã hướng đến sự tăng trưởng ổn định dài hạn hơn là quá đam mê với bùng nổ ngắn hạn. Công cuộc cải cách kinh tế trong nước dù chậm nhưng vẫn được tiến hành.

Trên những nhận định đó, DBS cho rằng triển vọng dài hạn của kinh tế Việt Nam là vô cùng tích cực và có thể gia nhập top những nền kinh tế có GDP lớn nhất khu vực trong thập niên tới.

Đầu tư cho tương lai

Việt Nam đang chú trọng phát triển cơ sở hạ tầng cũng như thu hút đầu tư nước ngoài cho phát triển dài hạn. Nền kinh tế có Nguồn vốn trực tiếp nước ngoài (FDI) thuộc top hàng đầu khu vực với 14,1 tỷ USD năm 2017, tương đương 6,3% GDP danh nghĩa, cao thứ 3 tại ASEAN.

Những lợi thế mà nền kinh tế Việt Nam đang có hiện nay là các khu công nghiệp tích hợp và chuyên dụng cao, có địa điểm chiến lược nằm trong chuỗi cung ứng, gần thị trường lớn Trung Quốc cũng như thuế suất hấp dẫn và lực lượng lao động trẻ dồi dào.

Việt Nam đứng thứ 3 ASEAN về nhận vốn FDI, trong đó Nhật Bản là nhà đầu tư hàng đầu
Việt Nam đứng thứ 3 ASEAN về nhận vốn FDI, trong đó Nhật Bản là nhà đầu tư hàng đầu

Các nhà đầu tư hàng đầu tại Việt Nam hiện nay là Nhật Bản (chiếm 18,6% tổng FDI), Hàn Quốc (10,3%), Singapore (4%), trong khi Trung Quốc chỉ chiếm 3,4%. Những lĩnh vực đầu tư FDI cũng khá rộng, từ bất động sản, cơ sở hạ tầng , ngân hàng, viễn thông cho đến sản xuất. Trong đó, mảng sản xuất, nhất là thiết bị điện tử thu được nhiều sự chú ý của nhà đầu tư nhất.

Sự phát triển của mảng sản xuất điện tử tại Việt Nam là nhờ xu thế dịch chuyển chuỗi cung ứng trong khu vực. Việt Nam đã nhanh chóng chiếm lĩnh thị phần từ nhiều nền kinh tế dẫn đầu của mảng này. Đây là tiến trình mà nhiều nước Châu Á đang tham chiến khi những công xưởng điện tử trước đây gia tăng chi phí sản xuất, khiến những nước có chi phí thấp hơn như Việt Nam trở nên hấp dẫn hơn.

Đầu tư cho sản xuất công nghệ ở Việt Nam ngày càng tăng và các tập đoàn công nghệ cao đổ bộ ngày càng nhiều vào thị trường này trong những năm gần đây. Những cái tên như Samsung, Intel, LG, Microsoft hay Panasonic đã dịch chuyển từ Trung Quốc sang Việt Nam và tiền trình này vẫn đang tiếp tục, đem lại các hiệu quả rõ ràng về tăng trưởng kinh tế.

Kim ngạch xuất khẩu điện tử của các nước ASEAN (tỷ USD)
Kim ngạch xuất khẩu điện tử của các nước ASEAN (tỷ USD)
Việt Nam có tỷ lệ đầu tư cơ sở hạ tầng theo phần trăm GDP lớn nhất ASEAN
Việt Nam có tỷ lệ đầu tư cơ sở hạ tầng theo phần trăm GDP lớn nhất ASEAN

rong chưa đến 1 thập niên, Việt nam đã vượt qua hàng loạt thị trường có lợi thế về công nghệ để trở thành nhà xuất khẩu thiết bị điện tử lớn thứ 2 tại ASEAN, chỉ đứng sau Malaysia. Thậm chí với tốc độ tăng trưởng như hiện nay, sẽ không có bất ngờ gì khi Việt Nam trở thành nhà xuất khẩu điện tử hàng đầu ASEAN vào những năm tới.

Bên cạnh tận dụng xu thế, Việt Nam cũng đầu tư mạnh cho cơ sở hạ tầng. Mặc dù nhiều nền kinh tế trong khu vực cũng làm tương tự nhưng Việt Nam lại thực hiện chúng với quy mô khá lớn nếu so sánh với kích cỡ nền kinh tế. Số liệu của ngân hàng ADB cho thấy tổng đầu tư cơ sở hạ tầng của Việt Nam theo tỷ lệ phần trăm GDP đạt 5,8% năm 2017, cao hơn rất nhiều nước láng giềng.

Chính nhờ sự đầu tư cơ sở hạ tầng với quy mô lớn này mà Việt Nam có thể thúc đẩy lâu dài được tăng trưởng kinh tế cũng như thu hút thêm các nguồn vốn FDI.

Lao động giỏi lại giá “bèo”, ai chả thích

Cấu trúc dân số Việt Nam hiện khá tốt. Mặc dù độ tuổi bình quân vẫn cao hơn một chút so với nhiều nước có lợi thế dân số trẻ trong khu vực nhưng như thế vẫn có lợi thế hơn các nền kinh tế như Singapore, Thái Lan hay Trung Quốc.

Ngoài ra, chất lượng giáo dục cũng góp phần không nhỏ cho tăng trưởng dài hạn khi Việt nam vượt mặt nhiều nước trong khu vực về mặt này. Chỉ số nguồn lực con người của Ngân hàng thế giới World Bank xếp Việt Nam đứng thứ 3 sau Singapore và Trung Quốc trong khu vực ASEAN và Trung Quốc.

Độ tuổi bình quân của các nước tại ASEAN
Độ tuổi bình quân của các nước tại ASEAN
Việt Nam vượt nhiều nước ASEAN về chỉ cố con người
Việt Nam vượt nhiều nước ASEAN về chỉ cố con người

Nhân lực Việt Nam không những chăm chỉ mà còn được đầu tư cho giáo dục. Trong suốt 20 năm qua, chính phủ đã luôn dành 20% chi tiêu công cho giáo dục, một tỷ lệ khá cao so với thế giới. Nhờ đó năng suất lao động của Việt Nam đã được cải thiện trong những năm qua.

Thêm nữa, việc FDI đổ vào mảng công nghệ cũng thúc đẩy giáo dục cũng như nhu cầu lao động tay nghề cao, qua đó gián tiếp thúc đẩy tăng trưởng năng suất. Tăng trưởng năng suất của Việt Nam không những cải thiện trong những năm gần đây với mức bình quân 5,7%/năm trong giai đoạn 2015-2017, mà còn vượt nhiều nền kinh tế để vươn lên đứng thứ 2 sau Trung Quốc.

Không những năng suất, lao động Việt Nam còn có chi phí cực kỳ cạnh tranh trong khu vực. Mức lương bình quân tháng của Việt Nam chỉ bằng 1/3 so với Trung Quốc. Chính yếu tố này khiến Việt Nam thu hút ngày càng nhiều doanh nghiệp điện tử cũng như sẽ trở thành người được lợi nhất trong cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung hiện nay.

Việt Nam vượt nhiều nước ASEAN về tăng trưởng năng suất lao động
Việt Nam vượt nhiều nước ASEAN về tăng trưởng năng suất lao động
Việt Nam có chi phí lao động thuộc hàng thấp nhất khu vực (USD/tháng)
Việt Nam có chi phí lao động thuộc hàng thấp nhất khu vực (USD/tháng)

Lợi ích từ chiến tranh thương mại

Việt Nam đang có lợi thế cực kỳ lớn trong tình hình chiến tranh thương mại diễn ra hiện nay. Nền kinh tế đang xâm nhập ngày càng nhiều trong chuỗi cung ứng sản xuất trong khi nguồn vốn FDI mạnh cũng như phát triển kỹ thuật bao năm qua giúp ngành sản xuất của Việt Nam ngày càng có chỗ đứng.

Bên cạnh đó, Việt Nam có đến 44 cảng biển với công suất tổng đạt 500 triệu tấn/năm. Việt Nam cũng nằm trên vùng biển Đông, nơi chiếm 20% lưu lượng thương mại trên toàn cầu.

Thêm nữa, Việt Nam cũng ký kết nhiều thỏa thuận thương mại tự do như AFTA, AEC, CPTPP, RCEP…qua đó củng cố mối liên kết thương mại với những đối tác chiến lược như Nhật Bản hay Hàn Quốc.

Giờ đây khi chi phí nhân công của Trung Quốc đã cao gấp 3 lần so với Việt Nam, qua đó làm giảm lợi nhuận và buộc các công ty phải dịch chuyển nhà máy của mình sang nước khác. Dựa trên lợi thế về vị trí địa lý, Việt Nam là một trong những lựa chọn hàng đầu. Đó là chưa kể đến thị trường có tầng lớp trung lưu ngày một tăng tại Việt Nam, qua đó thúc đẩy nhu cầu nội địa cũng như thu hút các nhà sản xuất nước ngoài.

FDI từ Trung Quốc vào Việt nam vượt xa các nước khác trong 4 tháng đầu năm 2019 (tỷ USD)
FDI từ Trung Quốc vào Việt nam vượt xa các nước khác trong 4 tháng đầu năm 2019 (tỷ USD)

Trên thực tế, dòng vốn FDI từ Trung Quốc đổ vào Việt Nam đã cao hơn rất nhiều trước khi chiến tranh thương mại trở nên nóng bỏng. Trong 4 tháng đầu năm 2019, FDI từ Trung Quốc vào Việt Nam đạt 1,3 tỷ USD, cao hơn tất cả những nhà đầu tư khác từ đầu năm đến nay hay trong cùng kỳ năm trước. Thậm chí, riêng tổng nguồn vốn FDI của Trung Quốc vào Việt Nam trong 4 tháng đầu năm đã vượt cả tổng số của cả năm 2018.

Với dấu hiệu này, DBS cho rằng đây là minh chứng cho sự dịch chuyển của các doanh nghiệp từ Trung Quốc sang những thị trường an toàn hơn như Việt Nam, nhất là khi căng thẳng thương mại Mỹ-Trung ngày càng nóng hơn.

Theo AB Nhịp sống Kinh tế

Doanh nghiệp

Bà Lê Diệp Kiều Trang rời Go-Viet sau 6 tháng

Đã đăng

 ngày

Bởi

Sau 5 tháng là tổng giám đốc, bà Lê Diệp Kiều Trang sẽ từ chức, chia tay Go-Viet và để lại ghế trống chưa có người thay.

Thông tin trên vừa được Go-Viet thông báo vào hôm nay (18/9). Theo thông cáo phát đi, bà Trang quyết định lựa chọn hướng đi riêng cho sự nghiệp của mình và công ty “lấy làm tiếc về việc này”. Công ty chưa tiết lộ thời điểm chính xác bà Trang thôi việc.

“Chúng tôi luôn đặt những kế hoạch và dự định kinh doanh hiệu quả nhất với từng thời kỳ lãnh đạo. Tuy nhiên, sau 5 tháng làm việc tại Go-Viet, bà Lê Diệp Kiều Trang (Christy Le) đã quyết định chọn một hướng đi khác. Chúng tôi đã luôn nỗ lực tìm kiếm sự đồng thuận giữa các bên nhưng đã không có kết quả như mong đợi”, Go-Viet cho biết.

Tổng giám đốc Go-Viet - bà Lê Diệp Kiều Trang.
Tổng giám đốc Go-Viet – bà Lê Diệp Kiều Trang.

Sau sự ra đi của bà Trang, Go-Viet khẳng định vẫn tự tin đội ngũ quản lý hiện tại ở Việt Nam, được hỗ trợ bởi đội ngũ chuyên gia quốc tế ở Go-Jek, sẽ đảm bảo cho công ty phát triển thời gian tới.

Bình luận về việc thay đổi nhân sự, Go-Viet cho biết công ty luôn đánh giá cao tinh thần hợp tác và sự tôn trọng đối với từng cá nhân.

Nhận chức Tổng giám đốc Go-Viet từ cuối tháng 4/2019, bà Diệp Kiều Trang, sinh năm 1980, là một nhân vật có tiếng trong giới công nghệ Việt Nam. Tốt nghiệp Học viện Công nghệ Massachusetts, Kiều Trang đầu quân cho công ty tư vấn chiến lược McKinsey. Sau đó, bà cùng chồng là ông Sonny Vũ sáng lập nên Misfit Wearables.

Cuối năm 2015, khi Misfit Wearables được bán cho Fossil Group, Lê Diệp Kiều Trang giữ vị trí Tổng giám đốc Fossil Việt Nam. Đầu tháng 3/2018, bà rút khỏi Fossil Việt Nam để đầu quân cho Facebook. Bà đảm nhận vai trò Giám đốc Facebook Việt Nam đến hết năm 2018.

Về phía Go-Viet, dù mới có mặt ở Việt Nam vừa tròn một năm nhưng đã hai lần thay đổi tổng giám đốc. Hồi cuối tháng 3, công ty này xác nhận ông Nguyễn Vũ Đức rời vị trí tổng giám đốc, bà Nguyễn Bảo Linh cũng chia tay vai trò phó tổng giám đốc phụ trách phát triển. Cả hai nhân vật gắn liền với ngày đầu thành lập của hãng trở thành cố vấn cho Go-Viet, Go-Jek và vẫn làm việc tại Việt Nam.

Viễn Thông – Vnexpress

Đọc tiếp

Doanh nghiệp

Kiểm toán nghi ngờ khoản đầu tư nhiệt điện của Tân Tạo

Đã đăng

 ngày

Bởi

Số phận dự án nhiệt điện Kiên Lương chưa rõ ràng khiến kiểm toán nghi ngờ khả năng thu hồi khoản đầu tư và phải thu của Tân Tạo.

Tại ngày 30/6, Công ty cổ phần Đầu tư và Công nghiệp Tân Tạo ghi nhận khoản đầu tư vào Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển năng lượng Tân Tạo (TEDC) và Công ty cổ phần Năng lượng Tân Tạo 2 (TEC 2) với giá trị lần lượt 1.753 tỷ đồng và 417 tỷ đồng. Đây là hai doanh nghiệp đang sở hữu tổng cộng 86% vốn của chủ đầu tư dự án nhiệt điện Kiên Lương. Ngoài ra, Tân Tạo còn có một khoản phải thu liên quan đến dự án này là hơn 1.342 tỷ đồng.

Phía kiểm toán cho rằng, Tân Tạo chưa đánh giá được khả năng thu hồi các khoản đầu tư và phải thu này do phụ thuộc vào việc dự án có được tiếp tục hay không. Vào ngày lập báo cáo tài chính soát xét, ban lãnh đạo công ty vẫn đang xin các phê duyệt từ cơ quan nhà nước và kết quả sau cùng chưa được xác định.

Phản hồi ý kiến của kiểm toán, phía Tân Tạo cho biết công ty vẫn tiếp tục bám sát cơ quan, ban ngành để kiến nghị Chính phủ đưa dự án này vào quy hoạch điện VII điều chỉnh. Công ty đã đánh giá khả năng thu hồi bằng cách ước tính giá trị thanh lý dự án theo giá bất động sản tại khu vực lân cận. Ước tính khoản tiền thu từ việc thanh lý đủ để hoàn trả nên công ty vẫn ghi nhận số tiền đầu tư theo giá gốc, không bị suy giảm và không trích lập dự phòng. 

Dự án nhiệt điện Kiên Lương được khởi công vào năm 2009, có tổng vốn đầu tư khoảng 2 tỷ USD. Dự án bắt đầu đình trệ sau đó hai năm và có chuyển biến mới khi Thủ tướng cho phép chuyển đổi hình thức đầu tư sang BOT vào tháng 2/2014.

Báo cáo của Bộ Công Thương gửi Thủ tướng vào giữa năm ngoái cho thấy, UBND tỉnh Kiên Giang không liên lạc được với chủ đầu tư là Công ty cổ phần năng lượng Tân Tạo (TEC, công ty thành viên của ITA) để trao đổi, bàn hướng xử lý vướng mắc của dự án. 

Bộ đề xuất hai phương án giải quyết. Một là thu hồi dự án trên cơ sở khẳng định lỗi của chủ đầu tư, ra quyết định thu hồi chủ trương đầu tư và không đàm phán bồi thường. Hai là bổ sung dự án này vào quy hoạch phát triển điện quốc gia 2021 – 2030 có xét đến 2040 (quy hoạch điện VIII) để phát triển theo hình thức BOT, nếu sau khi rà soát các phương án sử dụng nhiên liệu và đánh giá vẫn cần trong cân bằng nhu cầu điện năng quốc gia giai đoạn này.

Phương Đông – Vnexpress

Đọc tiếp

Kinh tế

Nhân viên chi trăm triệu ‘ôm’ trái phiếu cho ngân hàng

Đã đăng

 ngày

Bởi

Không bán được trái phiếu, Minh bỏ tiền túi ra mua rồi cầm cố lại cho chính ngân hàng. Nhờ vậy, nhà băng huy động được vốn còn Minh thì đạt chỉ tiêu.

Đó là cách làm của Minh, nữ nhân viên của một ngân hàng quốc doanh thời gian qua. Cũng như một số đơn vị trong làn sóng phát hành hàng nghìn tỷ đồng trái phiếu từ đầu năm đến nay, ngân hàng của Minh đang đứng trước áp lực tăng vốn trung dài hạn và vốn cấp hai.

Tất cả đều là giấy tờ có giá kỳ hạn ngắn nhất 7 năm. Dù lãi suất theo các ngân hàng tự đánh giá là “khá hấp dẫn” (cao hơn 1-1,5% so với lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng), trái phiếu dạng này chưa thu hút được người gửi tiền Việt Nam. Do đó, ngân hàng Minh đã giao chỉ tiêu bán trái phiếu tới từng chi nhánh, cán bộ để tăng được vốn.

Giao dịch viên ngân hàng kiểm tiền. Ảnh: Anh Tú.
Giao dịch viên ngân hàng kiểm tiền. Ảnh: Anh Tú.

Tùng, nhân viên tín dụng đã nghỉ việc ở một trong bốn ngân hàng thương mại Nhà nước tại Nghệ An cũng kể lại câu chuyện tương tự Minh. Có đợt, anh được giao tới 200 triệu đồng trái phiếu mà không thể huy động từ khách hàng hay người thân. Vợ và bạn bè anh làm việc cho các “Big 4” khác cũng thường được khoán chỉ tiêu ở các đợt phát hành, trung bình từ 100-200 triệu đồng.

“Nếu không bán được thì nhân viên bỏ tiền túi ra mua. Tuy nhiên với số tiền lớn và kỳ hạn dài như vậy thì thông thường chúng tôi sẽ lại vay cầm cố”, anh nói.

Như vậy, trái phiếu đáng lẽ được ngân hàng phát hành để huy động từ dân cư thì lại thông qua các nhân viên của mình và quay trở lại két của nhà băng. Hiện tượng này, chuyên gia tài chính Nguyễn Đức Độ, Viện Kinh tế Tài chính (Bộ Tài chính) cho rằng, sẽ gây ra tình trạng tăng vốn ảo, tín dụng cũng không vào khu vực sản xuất. Điều này chỉ giúp quy mô vốn và tài sản ngân hàng tăng lên về mặt sổ sách, làm đẹp các chỉ số tài chính và hoạt động cho họ.

Còn Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) Nguyễn Đức Thành cho rằng, hiện tượng này sẽ tác động đến nền kinh tế tùy thuộc vào quy mô của trái phiếu mua vào cầm cố có đáng kể hay không.

Trả lời VnExpress, phó tổng giám đốc một trong những ngân hàng tham gia đợt phát hành trái phiếu vừa rồi vẫn khẳng định việc nhân viên ngân hàng mua rồi cầm cố lại trái phiếu không phải chủ trương của họ. “Nếu cho cầm cố lại thì chính ngân hàng mất chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng”, người này nói. Tuy nhiên, vị này xác nhận có thể xuất hiện tình trạng cấp dưới “lách” quy định.

Ông Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV cũng cho rằng, việc phát hành này không đúng bản chất huy động nguồn vốn từ bên ngoài. Thông qua việc nhân viên mua trái phiếu rồi cầm cố, vốn cấp 2 của ngân hàng vẫn tăng nhưng nguồn tiền này không phải huy động từ dân cư.

Thực tế, việc giao KPI (chỉ tiêu) cho nhân viên dựa vào năng lực và vị trí công việc là bình thường ở mọi doanh nghiệp, vì nó mang tính chất san sẻ một phần trách nhiệm hoàn thành công việc chung. Nhân viên vị trí kinh doanh, tiếp xúc với khách hàng nhiều sẽ nhận chỉ tiêu cao hơn so với những người làm kế toán, tài chính, tác nghiệp hỗ trợ phía sau.

Tuy nhiên, ông Cấn Văn Lực cho biết không ủng hộ điều này nếu trái phiếu lại được quay về trong két ngân hàng. Ngoài việc bản thân mỗi nhân viên nỗ lực để hoàn thành chỉ tiêu theo đúng nghĩa, theo ông, một số ngân hàng quá “bí bách” trong việc tăng vốn cấp 2 có thể đề xuất Ngân hàng Nhà nước xem xét giãn lộ trình áp dụng Basel II. Ở chiều ngược lại, các cơ quan chức năng cũng như Bộ Tài chính nên có những giải pháp để tăng vốn cấp 1 cho hệ thống.

Thực tế, các ngân hàng ồ ạt phát hành trái phiếu huy động từ dân cư là nhằm đáp ứng yêu cầu về tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung – dài hạn và hệ số CAR theo yêu cầu của Basel II.

Ông Tiết Văn Thành, Tổng giám đốc Agribank cũng chia sẻ với VnExpress, việc tăng vốn tự có của nhà băng gặp rất nhiều khó khăn nên đã nhiều lần trình các phương án lên Chính phủ. Ông cho biết, trong đợt phát hành trái phiếu tăng vốn đang điển khai, dù khó khăn, Agribank vẫn đặt mục tiêu hoàn thành kế hoạch chào bán 5.000 tỷ đồng.

Theo các phương án Ngân hàng Nhà nước cân nhắc, tới giữa năm 2020, tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn về mức 40%. Không ít nhà băng cho rằng quy định này của cơ quan quản lý đang đưa họ vào thế khó. Bởi thị trường trái phiếu Việt Nam chưa phát triển nên cần có thời gian để thị trường hoàn thiện cũng như thay đổi nhận thức, thói quen của nhà đầu tư cá nhân.

Quỳnh Trang – Vnexpress

Đọc tiếp
Advertisement

Facebook

Advertisement

Tin Nổi bật