Kết nối với chúng tôi:

Thời sự

Năm 2020 lương tối thiểu vùng tăng 5,5%

Đã đăng

 ngày

 

Mức tăng 5,5% được cho là sẽ đáp ứng 100% mức sống tối thiểu cho người lao động.

Sau cuộc thương lượng thứ 2 tổ chức chiều 11/7, Hội đồng Tiền lương Quốc gia đã chốt phương án tăng lương tối thiểu vùng năm 2020 lên 5,5% so với 2019. 

Theo đó, năm 2020, lương tối thiểu mỗi tháng ở vùng 1 sẽ tăng từ 4,18 lên 4,42 triệu đồng (tăng 240.000 đồng), vùng 2 tăng từ 3,71 lên 3,92 triệu đồng (tăng 210.000 đồng); vùng 3 tăng từ 3,25 lên 3,43 triệu đồng (tăng 180.000 đồng); vùng 4 tăng từ 2,92 lên 3,07 triệu đồng (tăng 150.000 đồng).

Mức tăng 5,5% được cho là sẽ đáp ứng 100% mức sống tối thiểu cho người lao động và sẽ được Hội đồng Tiền lương Quốc gia trình lên Chính phủ để quyết định.

Lương tối thiểu vùng năm 2020 lên 5,5% so với 2019.

Tham gia cuộc họp của Hội đồng Tiền lương Quốc gia, với mong muốn cải thiện tốt nhất đời sống của người lao động, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đề xuất mức tăng 8,18% hoặc 7,06% (lần thương lượng đầu tiên), sau đó đưa thêm một phương án tăng 6,52% ở lần thương lượng thứ 2.

Ngược lại, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI, đại diện cho phía doanh nghiệp), cho rằng cần giãn lộ trình điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng đến năm 2020 hoặc chỉ nên điều chỉnh mức tăng thêm 1-2%. Lý do là để hỗ trợ doanh nghiệp cải thiện năng suất, chất lượng lao động, tăng khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững, xử lý rủi ro suy giảm tăng trưởng có tính chu kỳ. Sau khi thảo luận, VCCI nhích mức tăng lên 2,5-3,5%, sau đó là 4%.

Cuối phiên thương lượng, các bên đã thống nhất đưa ra mức tăng 5,5% và đạt được đồng thuận khi bỏ phiếu.

Tại phiêp họp lần đầu tiên hồi tháng 6, đại diện VCCI đề xuất mức tăng dưới 2% và phía Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam đề xuất tăng 8,1%.

Lương tối thiểu vùng là mức thấp nhất làm cơ sở để doanh nghiệp, người lao động thỏa thuận và trả lương. Người được áp dụng mức lương này làm việc theo chế độ hợp đồng của Bộ luật lao động; làm việc trong doanh nghiệp thành lập theo Luật Doanh nghiệp; hợp tác xã, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động theo hợp đồng; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam có thuê lao động.

Đoàn Loan – Vnexpress

Advertisement
Nhấn vào đây để bình luận

You must be logged in to post a comment Login

Leave a Reply

Thời sự

Băn khoăn việc đặt tên đường Lê Văn Duyệt

Đã đăng

 ngày

Bởi

Người dân, nhà nghiên cứu ủng hộ đặt tên đường Lê Văn Duyệt nhưng băn khoăn giữa việc đổi tên đường Đinh Tiên Hoàng hay đặt cho con đường mới.

Nhận phiếu lấy ý kiến của UBND phường về việc đổi tên đường Đinh Tiên Hoàng, đoạn từ cầu Bông đến Phan Đăng Lưu thành đường Lê Văn Duyệt, ông Nguyễn Văn Thảo, 60 tuổi, ngụ phường 3 quận Bình Thạnh, tán đồng. Con đường hiện dài hơn 2 km, bắt đầu từ đoạn giao với đường Lê Duẩn, quận 1, chạy qua cầu Bông và điểm cuối là đoạn giao với đường Phan Đăng Lưu, quận Bình Thạnh.

Ông Thảo sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn, từng gắn bó với tên đường Lê Văn Duyệt (tiền thân đường Đinh Tiên Hoàng) cùng ngôi trường nữ Trung học Lê Văn Duyệt (nay là THPT Võ Thị Sáu) trước năm 1975.

Theo ông, việc đặt lại tên đường Lê Văn Duyệt là hợp lý bởi đây là nhân vật có nhiều công lao với vùng đất Sài Gòn – Gia Định. Con đường này đi qua lăng mộ Lê Văn Duyệt cũng mang tính giáo dục lịch sử. “Bản thân tôi và nhiều người dân khu vực Bà Chiểu rất ngưỡng mộ ông. Ngày lễ, tết hay ngày giỗ ông, chúng tôi đều vào thắp nhang ở Lăng Ông”, ông Thảo kể.

Tương tự, ông Mai Quốc Trinh, 75 tuổi, ngụ phường 1, cho rằng phương án này hợp tình, hợp lý. Là người thường làm công quả tại Lăng Ông, ông Trinh cho biết người dân ở Bình Thạnh nói riêng và nhiều tỉnh thành miền Nam dành tình cảm và ngưỡng vọng lớn với Tả quân Lê Văn Duyệt. Việc đặt tên đường giúp nhiều người hiểu hơn lịch sử, đồng thời ghi nhận công lao của ông.

Việc đặt tên cho đoạn đường Đinh Tiên Hoàng trên quận Bình Thạnh là Lê Văn Duyệt cũng giúp phân biệt vị trí của người dân tốt hơn.

Đường Đinh Tiên Hoàng, đoạn giao với đường Phan Đăng Lưu, trước khu Di tích lịch sử văn hoá Lăng Lê Văn Duyệt (quận Bình Thạnh). Ảnh: Mạnh Tùng.
Đường Đinh Tiên Hoàng, đoạn giao với đường Phan Đăng Lưu, trước khu Di tích lịch sử văn hoá Lăng Lê Văn Duyệt, quận Bình Thạnh. Ảnh: Mạnh Tùng.

PGS Phan Xuân Biên (Ủy viên Thường trực Hội đồng đặt, đổi tên đường TP HCM) cho biết, việc đổi tên đường thường xuất phát từ nhu cầu của các tổ chức, cá nhân hoặc đề xuất của quận huyện. Phương án đổi tên đường Đinh Tiên Hoàng thành Lê Văn Duyệt xuất phát từ đề xuất của ông Trần Văn Sung, Phó Ban quản lý Di tích lịch sử văn hóa Lăng Lê Văn Duyệt từ năm ngoái.

Quận Bình Thạnh đã lấy ý kiến các nhà khoa học, tổ chức đoàn thể, đa số đồng thuận. Nay chính quyền tổ chức lấy ý kiến cư dân nơi tuyến đường đi qua, lấy căn cứ để Sở Văn hoá và Thể thao tổng hợp, báo cáo Hội đồng đặt, đổi tên đường TP HCM. Hội đồng sẽ tham mưu cho UBND TP HCM, tiếp đó trình HĐND thành phố thông qua, bổ sung quỹ tên đường.

Theo ông Biên, Lê Văn Duyệt là người có vị trí quan trọng trong lịch sử, được nhân dân miền Nam Bộ kính trọng, xứng đáng được đặt tên đường. Nhưng hiện vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về nhân vật này bởi đánh giá Lê Văn Duyệt theo Gia Long chống nhà Tây Sơn.

“Lịch sử là khách quan, nhưng sử học có góc nhìn chủ quan của người nghiên cứu. Chúng ta phải đánh giá đúng bản chất lịch sử. Việc đặt, đổi tên đường ảnh hưởng đến người dân nên cần dựa trên cơ sở khoa học, có sự đồng thuận của xã hội”, ông Biên nói.

Dưới góc nhìn của nhà nghiên cứu, PGS Lê Trung Hoa (nguyên giảng viên Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP HCM) ủng hộ TP HCM có tên đường Lê Văn Duyệt dù ông bị cho là có sai lầm khi phò tá Gia Long chống nhà Tây Sơn. “Cần nhìn nhận ông là tài năng lớn về chính trị, quân sự, đóng góp lớn cho việc mở mang, gìn giữ phương Nam, chỉ huy đào kênh Vĩnh Tế”, ông Hoa nói.

Là chuyên gia địa danh học, PGS Hoa cho biết năm 1874, người Pháp đặt tên đường Đinh Tiên Hoàng ngày nay là Avenue de I’Inspection, người dân quen gọi là đường Hàng Bàng vì hai bên có trồng bàng. Tháng 3/1955, đường này mang tên Lê Văn Duyệt, đến tháng 8/1975 đổi thành Đinh Tiên Hoàng. Trong khi đó, ở Sài Gòn trước năm 1975 cũng có đường mang tên Lê Văn Duyệt (nay là đường Cách Mạng Tháng Tám, đoạn gần ngã tư Bảy Hiền).

Đồng quan điểm, TS Nguyễn Nhã, Nhà nghiên cứu lịch sử và văn hoá, cho rằng Lăng Ông là biểu hiện cho lòng kính trọng của nhân dân miền Nam với Tả quân Lê Văn Duyệt. Công lao lớn nhất của chúa Nguyễn và nhà Nguyễn là mở mang bờ cõi, thống nhất đất nước. Trong đó có đóng góp quan trọng của Tả quân Lê Văn Duyệt phục vụ dưới thời chúa Nguyễn Ánh và sau trở thành vua Gia Long. Với tài làm tướng, ông có nhiều trận thắng, dẹp loạn trong thời đất nước đã thống nhất, có tài cai trị khi làm Tổng trấn thành Gia Định.

Về nhiều ý kiến trái chiều, TS Nhã nhìn nhận cần đánh giá đúng nhân vật lịch sử. “Chính trị là nhất thời nhưng lịch sử là trường tồn. Nhân vô thập toàn, Tổng trấn Lê Văn Duyệt cũng vậy”, TS Nhã nói. Sau Lê Văn Duyệt, ông Nhã cho rằng Võ Tánh, Võ Duy Nguy – những nhân vật quan trọng trong triều Nguyễn, có thể xem xét lại việc đặt tên đường.

Bàn thờ Tả quân Lê Văn Duyệt trong khu Lăng Ông (quận Bình Thạnh). Ảnh: Thành Nguyễn.
Bàn thờ Tả quân Lê Văn Duyệt trong khu Lăng Ông (quận Bình Thạnh). Ảnh: Thành Nguyễn.

Trong khi đó, dù ủng hộ tái lập đường Lê Văn Duyệt ở TP HCM, nhưng nhiều chuyên gia và người dân cho rằng nên chọn một con đường mới để đặt tên, thay vì đổi tên đoạn đường cũ.

PGS Tôn Nữ Quỳnh Trân, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu đô thị và phát triển, cho rằng hai bên đường Đinh Tiên Hoàng đông dân, việc đổi tên kéo theo hệ luỵ về thủ tục hành chính, hộ khẩu, giấy tờ của người dân. Việc ghi nhận công lao của Lê Văn Duyệt không nhất thiết phải đặt con đường đi qua khu di tích Lăng Ông.

Là chủ nhiệm đề tài nghiên cứu Công tác đặt đổi tên đường, công trình công cộng tại TP HCM – khảo sát thực trạng và giải pháp, bà Trân cho biết thành phố hiện có hơn 1.700 đường đủ chuẩn được đặt tên nhưng chưa có tên. TP HCM nên lựa chọn một con đường trong số này để đặt tên, nếu thông qua phương án bổ sung quỹ tên đường.

Lê Văn Duyệt (1764-1832) sinh ra trong gia đình nông dân tại Cù Lao Hổ, nay thuộc làng Hòa Khánh, tỉnh Tiền Giang. Tổ tiên ông có gốc tích ở Quảng Ngãi, sau vào Nam sinh sống. Năm 17 tuổi, Lê Văn Duyệt gặp chúa Nguyễn Phúc Ánh, sau đó được tuyển làm Thái giám Nội đình. Nhờ hiểu biết việc binh, ông được chúa Nguyễn tin dùng và được đứng vào hàng tướng lĩnh từ năm 1789.

Khi Gia Long lên ngôi, ông xem Lê Văn Duyệt là Đệ nhất khai quốc công thần và phong chức Khâm Sai Chưởng Tả Quân Dinh Bình Tây Tướng Quân. Ông làm Tổng trấn thành Gia Định hai lần, lần đầu 1813-1816, lần thứ hai 1820-1932.

Khi còn sống, Lê Văn Duyệt nắm giữ binh quyền rất lớn nên vua Minh Mạng vốn thù ghét nhưng không làm gì được. Nguyên nhân là trước đây ông không ủng hộ lập Minh Mạng làm vua. Lại thêm Tả tướng quân từng được vua Gia Long cho quyền “Nhập triều bất bái” (vào triều không cần phải lạy) nên sau này ông không chịu quỳ lạy khiến vua Minh Mạng không vừa ý.

Sau khi ông mất, để tập trung quyền lực, Minh Mạng bãi bỏ hai chức vụ Tổng trấn Bắc Thành và Tổng trấn Gia Định Thành. Tất cả trở thành tỉnh trực thuộc triều đình Huế. Tại mỗi tỉnh có chức Tổng đốc, Tuần vũ, Bố chánh, Án sát sứ và Lãnh binh cai quản.

Khi đến nhậm chức Bố chánh tỉnh Gia Định, Bạch Xuân Nguyên tuyên bố thừa hành mật chỉ của triều đình truy xét việc riêng của Lê Văn Duyệt. Ông bị cho can tội tham nhũng, lạm quyền, có mưu đồ tạo phản (việc tu sửa thành Bát Quái và đóng tàu). Nhiều thuộc hạ của Lê Văn Duyệt bị bắt giam, trong đó có con nuôi là Lê Văn Khôi, 16 người nhà của Lê Văn Duyệt bị giết.

Lê Văn Khôi dấy binh nổi loạn, chiếm thành Gia Định trong suốt 3 năm (1833-1835). Sau sự biến, lấy cớ Lê Văn Duyệt đã dung dưỡng Khôi, vua Minh Mạng cho san bằng mồ mả ông, xiềng xích lại, dựng bia đá sỉ nhục với tám chữ “Quyền yểm Lê Văn Duyệt phục pháp xử” (nơi hoạn quan Lê Văn Duyệt chịu tội).

Năm 1841, vua Thiệu Trị ban lệnh tha tội cho người thân của Lê Văn Duyệt. 8 năm sau, vua Tự Đức cho nhổ cây bia có khắc 8 chữ, cho thân nhân sửa sang, xây đắp mộ phần Lê Văn Duyệt.

Đến năm 1868, vua mới phục nguyên hàm cho ông là Tả quân. Sau này, khi phu nhân của ông là bà Đỗ Thị Phẫn (vua Gia Long ban cho để hầu hạ ông) qua đời cũng được chôn cất bên cạnh phần mộ Lê Văn Duyệt.

Mạnh Tùng – Vnexpress

Đọc tiếp

Thời sự

Người dân ngâm mình bắt hàu

Đã đăng

 ngày

Bởi

Khi thủy triều cạn, người dân ở xã Hương Phong, thị xã Hương Trà ra phá Tam Giang ngâm mình bắt hàu sữa.
Người dân bóc tách hàu sát bờ phá Tam Giang. Ảnh: Võ Thạnh
Người dân bóc tách hàu sát bờ phá Tam Giang. Ảnh: Võ Thạnh

7h sáng mỗi ngày, khi thủy triều rút, anh La Xuân (53 tuổi, thôn Vân Quật Đông, xã Hương Phong) cùng vợ chèo thuyền ra vùng nước cạn giữa phá Tam Giang bắt hàu sữa. Sau 15 phút, ông Xuân cho chiếc xuồng nan tre dừng lại ở vùng nước sâu khoảng một mét, rồi mang mặt nạ lặn xuống nước tìm bắt hàu. 

Bà Châu Thị Hoa (52 tuổi, vợ anh Xuân) cũng nhảy xuống nước, mang găng tay vải bố và cầm cây vợt bằng lưới ngâm mình trong dòng nước lợ để cùng chồng bắt hàu. Bà Hoa đi chậm rãi giữa dòng nước do phía dưới là những con hàu vỏ cứng, sắc nhọn. Vớt được con hàu sữa nào, hai vợ chồng lần lượt đưa lên thuyền.

Hàu sữa được người dân bán 50.000 đồng/kg còn vỏ. Ảnh: Võ Thạnh
Hàu sữa được người dân bán 50.000 đồng/kg còn vỏ. Ảnh: Võ Thạnh

Sau khoảng 3 giờ đồng hồ, ông Xuân và bà Hoa bắt được khoảng 50 kg hàu sữa đưa vào bờ. Họ bốc hàu vào rổ tre, rửa qua nước rồi dùng dao tách các con hàu đang bám vào nhau.

“Trung bình mỗi ngày hai vợ chồng bắt được hơn 50 kg hàu sữa, mỗi kg hàu còn vỏ bán với giá 50.000 đồng/kg, còn đã tách vỏ bán 150.000 đồng” bà Hoa nói.

Từ tháng 2 đến tháng 7 hàng năm, nhiều người dân thôn Vân Quật Đông tập trung ra vùng nước lợ ở phá Tam Giang bắt hàu sữa. Anh Trần Văn Cẩm, 31 tuổi, đã có 6 năm theo nghề này để nuôi sống gia đình. 

“Hàng ngày hai vợ chồng tôi ngâm mình trong nước từ sáng sớm đến trưa, khoảng 4 tiếng để bắt hàu. Vớt hàu đã khó, việc lấy xác hàu ra khỏi vỏ càng khó hơn”, anh Cẩm chia sẻ. Sau buổi sáng bắt hàu, hai vợ chồng mất thêm 3 tiếng đồng hồ ngồi tách vỏ để đem ra chợ bán. 

Bà Chấn ngâm mình hàng giờ trong nước để bắt hàu. Ảnh: Võ Thạnh
Bà Chấn ngâm mình hàng giờ trong nước để bắt hàu. Ảnh: Võ Thạnh

Bà Trần Thị Chấn (69 tuổi, thôn Vân Quật Đông) theo nghề bắt hàu gần 20 năm qua. Hàng ngày bà ngâm mình trong dòng nước lợ phá Tam Giang từ 6h đến 10h để mưu sinh. Hàu sữa sau khi bóc tách vỏ, bà Chấn đưa lên bán cho khách qua đường ven quốc lộ 49B. 

“Mỗi ngày tôi kiếm khoảng 100.000 – 300.000 đồng. Nghề bắt hàu dễ kiếm tiền song vất vả vì phải ngâm mình dưới nước lạnh nhiều giờ, nhiều khi không may giẫm đạp phải mảnh chai, hàu cắt rách bàn chân”, bà Chấn nói.

Hàu sữa là món ăn khoái khẩu của nhiều người dân ở Thừa Thiên Huế. Họ thường nấu cháo, xào hoặc nướng hàu với mỡ hành.

Ngâm mình bắt hàu sữa
Người dân bóc tách hàu sữa. Video: Võ Thạnh
   

Võ Thạnh – Vnexpress

Đọc tiếp

Thời sự

Hai phương án phân vùng đến năm 2030

Đã đăng

 ngày

Bởi

Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề xuất hai phương án phân vùng kinh tế – xã hội trên cả nước, giai đoạn 2021-2030.

Tiến Thành – Viết Tuân  – Vnexpress

Đọc tiếp
Advertisement

Facebook

Advertisement

Tin Nổi bật