Kết nối với chúng tôi:

Kinh tế

Anh chạy đua vào ngành công nghiệp không gian

Đã đăng

 ngày

 
Bỏ bê ngành hàng không vũ trụ nhiều năm, Anh quyết định nhảy vào ngành này vì sức ép của Brexit và cơ hội béo bở của IoT.

Cornwall, xa về phía tây nam nước Anh, được biết đến với những làng chài cổ và những bãi biển kín, có vách đá. Nhưng chẳng bao lâu nữa có thể là một nơi rất khác, với ngành công nghiệp vũ trụ nhỏ nhưng đang phát triển.

Một hoặc hai ngày trong năm, một chiếc Boeing 747 đã điều chỉnh công năng sẽ cất cánh từ đường băng tại sân bay ở đây, hướng ra Đại Tây Dương và bay lên tầng bình lưu. Ở đó, nó sẽ thả một tên lửa bên dưới cánh. Tên lửa sẽ khởi động và phóng một lượng vệ tinh nhỏ lên quỹ đạo, trong khi máy bay trở lại sân bay.

Đường băng của sân bay Cornwall ở Newquay, nơi chiếc Boieng 747 của Oirgin Orbit cất và hạ cánh để phóng vệ tinh. Ảnh: NYT
Đường băng của sân bay Cornwall ở Newquay, nơi chiếc Boieng 747 của Oirgin Orbit cất và hạ cánh để phóng vệ tinh. Ảnh: NYT

Sau 6 năm lên kế hoạch và gây quỹ, việc xây dựng một sân bay vũ trụ với kinh phí khoảng 22 triệu bảng Anh (28 triệu USD) sẽ bắt đầu vào tháng này tại sân bay Cornwall ở Newquay. Khách thuê chính của nó dự kiến là Virgin Orbit, một bộ phận thuộc công ty hàng không vũ trụ Virgin của tỷ phú Richard Branson. Điểm hấp dẫn của sân bay là việc đưa vệ tinh lên quỹ đạo bằng máy bay có thể được thực hiện nhanh hơn và với ít cơ sở hạ tầng hơn so với tên lửa mặt đất.

Sân bay đã có kế hoạch mang chiếc 747 (có tên gọi Cosmic Girl) và các thiết bị khác đang được thử nghiệm ở sa mạc Mojave tới Anh với sự trợ giúp 7,35 triệu bảng Anh từ Cơ quan Vũ trụ Anh. “Lúc đầu, mọi người cười nhạo chúng tôi”, Melissa Thorpe, Người đứng đầu bộ phận phát triển của Spaceport Cornwall, cho biết, “Phải mất rất nhiều công sức để thuyết phục nhiều người”.

Theo một số nhận định, hoạt động kinh doanh không gian của Anh đang giảm hai lần sau nhiều năm nước này bỏ bê. Tuy nhiên, giờ đây, cùng với Cornwall, chính phủ đang bỏ tiền cho một số địa điểm tiềm năng khác. Ở một bờ biển phía bắc xa xôi của Scotland, một bãi phóng đang được thiết kế riêng cho một loại tên lửa thân thiện với môi trường sản xuất gần đó.

Điều này là hoàn toàn mới đối với một quốc gia không có lịch sử lâu đời về tên lửa hoặc phóng vệ tinh vào không gian. Các sân bay vũ trụ ở Anh vẫn chưa được chứng minh hiệu quả. Trên thực tế, một số nhà phân tích nói rằng đã có quá nhiều cơ sở như vậy, bao gồm cả ở Mỹ.

Tên lửa mang vệ tinh đầu tiên – và cho đến nay, duy nhất – do Anh sản xuất đã được phóng từ Woomera ở Australia vào năm 1971. Chương trình đó có tên Black Arrow, đã bị loại bỏ sau 4 lần phóng vì không hiệu quả về chi phí.

“Anh sẽ cần vài năm nữa để phóng vệ tinh”, Doug Millard, Người phụ trách về không gian vũ trụ tại Bảo tàng Khoa học ở London, nhận xét. Nhưng theo ông, “đó là điều mà cách đây không lâu sẽ không bao giờ được xem xét”.

Một lý do lớn cho sự thay đổi là Brexit. Quyết định rút khỏi Liên minh châu Âu đã nâng cao nhận thức rằng Anh, quốc gia chủ yếu dựa vào các chương trình không gian của châu Âu và Mỹ cho các dịch vụ như định vị vệ tinh, sẽ gặp rủi ro nếu không có cơ sở hạ tầng không gian của riêng mình. Năm nay, ngân sách của cơ quan vũ trụ đã tăng 10%, lên 556 triệu bảng Anh, tất nhiên vẫn là một phần nhỏ trong số 22 tỷ USD của NASA.

Trong một cuộc phỏng vấn, Graham Turnock, Giám đốc điều hành của Cơ quan Vũ trụ Anh cho biết Brexit đã tạo “một sự kích thích thực thụ để khiến chúng ta nghĩ về những gì thực sự cần, với tư cách là một quốc gia trong không gian”.

Nhưng quyết định nhìn lên bầu trời cũng đúng lúc thị trường thương mại về khai thác không gian đang phát triển trên khắp thế giới, được thúc đẩy bởi các nhà đầu tư giàu có như Elon Musk, Jeff Bezos và Branson, cũng như các doanh nghiệp ít tiếng tăm hơn khác.

Điều quan trọng là sự xuất hiện của các vệ tinh nhỏ và rẻ hơn nhiều, có kích thước bằng một chiếc hộp đựng giày với giá từ một triệu USD trở xuống. Một số được sử dụng để quan sát, chẳng hạn như đo lượng dầu được lưu trữ trong các kho, loại dữ liệu có giá trị cho các nhà đầu tư năng lượng. Những đơn vị khác thì lên kế hoạch cung cấp kết nối Internet vệ tinh cho xu hướng IoT (Vạn vật kết nối) ứng dụng trong ôtô tự lái hay nhà thông minh.

“Chúng ta đã đi đúng lúc bắt đầu cuộc hành trình này”, Mark Boggett, CEO Seraphim Capital (London), đang quản lý quỹ vũ trụ trị giá 90 triệu USD, cho biết. Chính phủ của Thủ tướng Boris Johnson cũng có tính toán của riêng mình. Hồi tháng 7, họ chi 500 triệu bảng để mua lại 45% OneWeb, một nhà điều hành vệ tinh.

OneWeb đã nộp đơn xin phá sản trong năm nay, nhưng có liên quan đến lĩnh vực nóng nhất của ngành công nghiệp vệ tinh. Đó là tạo ra chùm vệ tinh phối hợp trong quỹ đạo thấp, được thiết kế cho các mục đích như mở rộng Internet đến các vùng xa xôi. OneWeb đang chế tạo vệ tinh của mình tại một nhà máy do Airbus đồng sở hữu ở Florida. Hy vọng của chính phủ Anh là OneWeb sẽ xây dựng một thế hệ vệ tinh trong tương lai ở Anh.

Nhìn chung, chính phủ đang cố gắng hỗ trợ cái được gọi là “không gian mới”, một cách tiếp cận thương mại và nhanh nhẹn hơn đối với một ngành công nghiệp thường bị chi phối bởi các chương trình của chính phủ và quân đội.

Những gì Anh đang hướng đến là tập trung vào các vệ tinh nhỏ, hoạt động trong quỹ đạo thấp của Trái đất, cách mặt đất khoảng 800 dặm, so với các vệ tinh bay cách mặt đất khoảng 22.000 dặm đôi khi tốn hàng trăm triệu USD.

Các vệ tinh nhỏ cũng có tuổi thọ ngắn hơn nhiều so với các vệ tinh lớn, đồng nghĩa với việc cần nhiều vệ tinh hơn và nhiều lần phóng hơn. Virgin Orbit cho biết họ có kế hoạch tính phí 12 triệu USD để đưa một vệ tinh nặng gần 700 pound (hơn 300 kg) vào không gian.

Việc có các bãi phóng ở gần sẽ đáp ứng nhu cầu cho các công ty như In-Space Missions, một công ty dịch vụ không gian ở Hampshire. Doug Liddle, CEO, cho biết công ty đã đến New Zealand để phóng vệ tinh trong năm nay, nhưng thất bại vì một sự cố tên lửa.

Nền kinh tế vũ trụ mới cũng có giá cả phải chăng hơn đối với các quốc gia quy mô trung bình như Anh. “Phương pháp tiếp cận vệ tinh nhỏ hiện nay có nghĩa là chúng tôi sẽ không chi toàn bộ ngân sách quốc gia cho chương trình không gian của mình”, Martin Sweeting, Nhà sáng lập kiêm Chủ tịch Surrey Satellite Technology, một công ty tiên phong trong lĩnh vực vệ tinh nhỏ, cho biết.

Không gian vũ trụ cũng đang dễ tiếp cận hơn đối với các công ty khởi nghiệp như Open Cosmos, công ty cung cấp dịch vụ xây dựng vệ tinh, sắp xếp việc phóng và vận hành với chi phí từ 10 triệu USD trở xuống. Công ty là một trong nhiều doanh nghiệp công nghệ tập trung tại Harwell, một cộng đồng gần Đại học Oxford.

Một vệ tinh đặt trong phòng sạch của Oxford Space Systems tại Harwell, Anh. Ảnh: NYT.
Một vệ tinh đặt trong phòng sạch của Oxford Space Systems tại Harwell, Anh. Ảnh: NYT.

Cộng đồng này còn có Lacuna Space, công ty có kế hoạch triển khai vệ tinh cho nhiều mục đích sử dụng như theo dõi gia súc trên các trang trại rộng lớn ở Mỹ Latinh. Hay như Oxford Space Systems, chuyên xây dựng các ăng-ten gắn trên vệ. “Đó là một hệ sinh thái nhỏ. Mọi người đều biết nhau”, Rafel Jordá Siquier, Nhà sáng lập 31 tuổi của Open Cosmos nói.

Nhưng không phải tất cả đều là startup. Airbus cũng là nhà sản xuất vệ tinh lớn và sử dụng 3.500 nhân viên làm việc trong bộ phận không gian vũ trụ ở Anh. Công ty từng lo lắng về tác động của Brexit, nhưng Richard Franklin, người đứng đầu bộ phận không gian tại Anh của Airbus đánh giá, khoản đầu tư vào OneWeb và sự tập trung của Anh vào không gian thực sự trấn an Airbus. “Hãy nhìn xem, Anh là một nơi thực sự tốt để đầu tư”, ông nói.

Nhưng tham vọng của Anh cũng phải đối mặt với những rủi ro và ẩn số lớn. Các công nghệ họ theo đuổi chưa được chứng minh. Cuộc thử nghiệm đầu tiên của Virgin Orbit trong năm nay tại Mỹ đã thất bại khi động cơ tên lửa chính ngừng hoạt động. Và đại dịch đã gây căng thẳng tài chính lớn lên đế chế của ông Branson, bao gồm cả công ty hàng đầu, Virgin Atlantic. Để giúp tăng cường tài chính của hãng hàng không và các công ty khác, doanh nhân này đã bán khoảng 500 triệu USD cổ phiếu của Virgin Galactic, một công ty kinh doanh du lịch vũ trụ. Nhưng Will Pomerantz, Phó chủ tịch phụ trách các dự án đặc biệt của Virgin Orbit, cho biết chiếc 747 vẫn sẽ đến Cornwall “khi họ sẵn sàng và cần chúng tôi”.

Thị trường vệ tinh cũng đầy cạnh tranh và hỗn loạn. Nhà sáng lập Tesla, Elon Musk đang xây dựng hệ thống vệ tinh lớn của riêng mình, tên gọi Starlink. Các công ty công nghệ khác có thể sẽ làm theo, trong khi nhiều nước hiện có thể chế tạo vệ tinh. “Một trong những điều tuyệt vời về vệ tinh nhỏ là ai cũng có thể làm được”, Alexandre Najjar, Cố vấn cấp cao của Euroconsult, một công ty nghiên cứu thị trường, cho biết.

Tuy nhiên, các doanh nhân ngành không gian của Anh nói rằng việc có bãi phóng gần nhà có thể mang lại lợi thế cho họ. “Nếu chúng tôi có thể lên một chiếc xe van và chở tàu vũ trụ của mình đến Scotland hoặc Cornwall, toàn bộ quá trình sẽ trở nên đơn giản hơn nhiều”, ông Liddle, người chế tạo vệ tinh cho biết.

Phiên An (theo NYT) – Vnexpress

Advertisement

Kinh tế

Kinh tế Việt – Nhật ngày càng gần nhau

Đã đăng

 ngày

Bởi

Chuyến thăm của tân Thủ tướng Nhật tới Việt Nam được cộng đồng doanh nghiệp kỳ vọng mở ra nhiều cơ hội làm ăn cho cả hai bên.

Thủ tướng Nhật cùng phu nhân đã bắt đầu chuyến thăm chính thức Việt Nam kéo dài đến 20/10. Hôm nay (19/10), ông Yoshihide Suga dự kiến gặp gỡ cộng đồng doanh nghiệp Nhật.

Là người sống 9 năm ở Việt Nam, Phó tổng giám đốc EY Việt Nam, phụ trách dịch vụ doanh nghiệp Nhật Bản Onose Takahisa tỏ ra hào hứng khi Thủ tướng Yoshihide Suga chọn Việt Nam là điểm đến trong chuyến công du đầu tiên.

“Việt Nam là một trong những đất nước quan trọng nhất trên thế giới đối với Nhật Bản”, ông Takahisa nói. Theo ông, các công ty Nhật ngày càng quan tâm đến thị trường Việt Nam, bằng chứng là 15/30 doanh nghiệp được Chính phủ hỗ trợ kinh phí trong dự án đa dạng chuỗi cung ứng sang ASEAN đã chọn Việt Nam là điểm đến.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Thủ tướng Nhật Bản Suga di chuyển từ nơi đón chính thức đến phòng hội đàm trong chuyến thăm Việt nam sáng 19/10. Ảnh: Ngọc Thành.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Thủ tướng Nhật Bản Suga di chuyển từ nơi đón chính thức đến phòng hội đàm trong chuyến thăm Việt nam sáng 19/10. Ảnh: Ngọc Thành.

Nhiều nhà bán lẻ khác như Uniqlo, MUJI cũng đang tìm cách mở rộng thêm cửa hàng. Cuối tuần trước, chuỗi dược mỹ phẩm lớn nhất Nhật Bản Matsumoto Kiyoshi cũng đặt cửa hàng đầu tiên TP HCM. Với chuỗi bán lẻ lớn nhất Nhật Bản AEON, Việt Nam cũng là thị trường nước ngoài được họ xem là trọng điểm để đầu tư, phát triển. Đến năm 2025, tập đoàn dự kiến vận hành 25 trung tâm thương mại với sự chuẩn bị tài chính lên đến 2 tỷ USD.

Chia sẻ với , ông Nishitohge Yasuo, Tổng giám đốc AEON Việt Nam cho rằng thị trường này rất tiềm năng nhờ tăng trưởng GDP cao, quy mô dân số dự kiến 100 triệu người vào 2025 với thu nhập trung bình của người dân tăng nhanh, diện tích bán lẻ hiện đại bình quân đầu người thấp hơn các nước khác…

Dân số Nhật đã giảm năm thứ 11 liên tiếp, tỷ lệ giảm lớn nhất trong lịch sử thống kê, theo thông tin từ Bộ Nội vụ & Truyền thông nước này hồi tháng 8. Áp lực này là một trong những nguyên nhân khiến nhiều nhà bán lẻ Nhật phải mở rộng sang những quốc gia có quy mô lớn, dân số trẻ.

Trong khi đó, ông Shimizu Akira, Trưởng đại diện Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) nhận xét, nền tảng cơ bản hấp dẫn doanh nghiệp Nhật là lực lượng lao động trẻ, chăm chỉ, cần cù.

Theo đánh giá của Goldman Sachs, chi phí lao động của Việt Nam rất cạnh tranh. Dữ liệu cho thấy, mức lương tối thiểu dù được điều chỉnh, tăng mạnh trong một thập kỷ qua nhưng chỉ bằng nửa Trung Quốc. Tại những thành phố đắt đỏ như Hà Nội, TP HCM, lương tối thiểu được quy định là 190 USD một tháng, còn Thượng Hải là 360 USD một tháng. Ở những thành phố rẻ hơn, mức lương ở Việt Nam và Trung Quốc là 132 USD một tháng và 220 USD một tháng.

Mặt khác, các thoả thuận thương mại tự do (FTA) với các đối tác lớn cũng khiến Việt Nam tránh khỏi chủ nghĩa bảo hộ gia tăng. Điều này khiến nền kinh tế này trở thành điểm trú ẩn an toàn cho các tập đoàn sản xuất toàn cầu. Việt Nam cũng có vị trí thuận lợi khi chung đường biên giới với Trung Quốc, khoảng 2-3 giờ lái xe.

Đến hết tháng 9, Nhật Bản có gần 4.600 dự án FDI còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký gần 60 tỷ USD, đứng thứ hai trong 136 quốc gia, vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Năm 2019, báo cáo của Tổ chức Xúc tiến Mậu dịch Nhật Bản (JETRO) cho biết, 66% doanh nghiệp Nhật có lãi khi đầu tư vào Việt Nam. 64% doanh nghiệp trả lời có kế hoạch mở rộng sản xuất, kinh doanh. Khảo sát của công ty NNA (Nhật Bản), dựa trên 820 câu trả lời hợp lệ cho biết, Việt Nam vượt Ấn Độ, là địa điểm đầu tư hứa hẹn nhất trong năm 2020 ở châu Á trong mắt doanh nghiệp Nhật.

Việc tăng cường đầu tư vào Việt Nam trong thời gian này, ngoài những yếu tố kể trên, còn đến từ khả năng ứng phó của Chính phủ Việt Nam trước các biến động, như Covid-19.

“Các bạn chống chọi và ngăn dịch rất tốt. Tại Nhật, đến nay, vẫn có tận 500 ca nhiễm mỗi ngày. Tôi cũng thấy rằng rất khó để cân đối bài toán chống dịch và phát triển kinh tế, nhưng các bạn đã làm rất tốt mục tiêu kép này”, ông Akira bình luận.

Ngược lại, Nhật Bản là thị trường xuất khẩu nhiều tiềm năng cho doanh nghiệp Việt.

Ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) nhấn mạnh, thị trường Nhật Bản còn nhiều dư địa cho hàng Việt. Hiện nhập khẩu từ Việt Nam chỉ chiếm 3,1% trong tổng số kim ngạch nhập khẩu của nước này.

Theo ông, cơ cấu xuất nhập khẩu của hai nước mang tính bổ trợ, không cạnh tranh trực tiếp. Nếu Việt Nam có nhu cầu nhập khẩu những mặt hàng có hàm lượng công nghệ có giá trị gia tăng cao, người Nhật quan tâm đến hàng nông – lâm – thuỷ sản, dệt may, da giày…

Màu sắc của những trái vải sang Nhật được giữ ổn định. Ảnh: Minh Hà.
Vải thiều Việt Nam được bày bán ở một siêu thị của Nhật. Ảnh: Minh Hà.

“Gần đây đã có làn sóng các doanh nghiệp Nhật chuyển hướng sang Việt Nam, tăng cường đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất sản phẩm rồi sau đó xuất khẩu ngược về nước”, ông Phú nói.

Như với AEON, tổng giá trị hàng hoá họ xuất từ Việt Nam qua Nhật đang tăng hàng năm. Nếu năm 2017 tổng giá trị hàng hoá là 250 triệu USD, thì đến năm ngoái, con số đã đạt khoảng 370 triệu USD.

Mặt khác, hàng Việt có lợi thế nhờ vào nhiều ưu đãi thuế quan từ các FTA mà hai cùng là thành viên, đơn cử hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA), Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện ASEAN – Nhật Bản (AJCEP), Hiệp định đối tác tiến bộ và toàn diện xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)…

Với lợi thế là chuỗi bán lẻ lớn nhất Nhật Bản, AEON đã đưa thành công nhiều mặt hàng Việt đến tay người tiêu dùng Nhật từ năm 2015. Theo đơn vị này, các mặt hàng chủ lực gồm may mặc (chiếm khoảng 59%), thực phẩm (chiếm 34,6%), nông sản như cà phê, thanh long, chuối, xoài, vải thiều, thuỷ sản như cá basa, tôm…

Tuy nhiên, nếu muốn đón nhận được các cơ hội, Việt Nam cần giải quyết được các vấn đề đang tồn tại. Lãnh đạo JICA cho hay, doanh nghiệp Nhật vẫn “phàn nàn” về nguồn lao động Việt Nam. Họ có nhu cầu lớn về người có tài năng và công nhân có kỹ năng để tham gia sâu các công đoạn sản xuất. “Đào tạo nguồn nhân lực có chuyên môn, kỹ thuật cao là yếu tố quan trọng lúc này”, ông Shimizu Akira nói.

Bên cạnh đó, JICA cho biết, các doanh nghiệp cũng lo ngại về thủ tục hành chính và thực thi pháp luật. Hiện các quy định của Việt Nam tương đối đầy đủ nhưng khi áp dụng, thực thi, lại không có sự rõ ràng, minh bạch.

Hay để thuận lợi xuất khẩu hàng hoá sang Nhật, ông Vũ Bá Phú lưu ý các doanh nghiệp Việt phải đáp ứng các tiêu chuẩn rất cao về vệ sinh an toàn thực phẩm, kỹ thuật. “Hàng hóa phải đảm bảo độ an toàn tuyệt đối khi sử dụng”, ông nói.

Thị hiếu tiêu dùng của người Nhật cũng rất đặc thù. Nhiều sản phẩm dù đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật nhưng không hợp nên khó bán chạy. Ví dụ, thời trang công sở ở Nhật chuộng màu sắc giản dị, chủ yếu ba màu: xám, trắng, đen. Hay đồ gỗ mỹ nghệ xuất sang Nhật phải có kích cỡ nhỏ hơn hàng đi châu Âu, Mỹ… do đặc thù quy mô nhà cửa, văn phòng ở nước này. Hệ thống phân phối ở Nhật cũng phức tạp, nhiều tầng trung gian. Doanh nghiệp nước ngoài vì vậy khó bán hàng trực tiếp đến siêu thị, người tiêu dùng mà phải qua các đầu mối nhập khẩu.

Mặt khác, nhiều đại diện doanh nghiệp Nhật chung nhận xét, Nhật Bản là thị trường đặc thù, do vậy, để làm ăn, hợp tác, điều cần thiết là phải xây dựng một mối quan hệ mang tính tin tưởng giữa hai bên. Các công ty công ty Việt Nam phải có được sự tin tưởng tại Nhật Bản, và ngược lại.

“Hiểu biết về ngôn ngữ, văn hoá, tập quán kinh doanh của người Nhật là vô cùng quan trọng”, ông Phú nhấn mạnh. Đơn cử cách trao danh thiếp, mang theo catalogue – gồm tiếng Nhật, Anh, đúng giờ hẹn… là những yếu tố không thể thiếu để tạo lòng tin từ lần gặp gỡ đầu tiên.

Ngoài ra, người Nhật hiện cũng quan tâm nhiều hơn đến mức giá sản phẩm và có sở thích nhập nhiều chủng loại hàng với số lượng nhỏ, thay vì lượng lớn như trước đây, vì vậy, để tăng tính cạnh tranh, doanh nghiệp Việt phải vừa tăng năng suất, vừa giảm giá thành.

Phương Ánh – Quỳnh Trang – Vnexpress

Đọc tiếp

Kinh tế

Khi Venezuela không còn là cường quốc dầu mỏ

Đã đăng

 ngày

Bởi

Lần đầu tiên trong một thế kỷ, không có giàn khoan nào dò tìm dầu thô ở Venezuela.

Các giếng dầu từng giúp Venezuela trở thành nước có dự trữ dầu thô lớn nhất thế giới giờ đang bị bỏ hoang hoặc mặc kệ cho tỏa hơi độc. Các nhà máy lọc dầu từng xử lý dầu thô để xuất khẩu thì nay rỉ sét, khiến dầu rò rỉ ra bờ biển.

Trong khi đó, thiếu hụt nhiên liệu trong nước đang khiến các hoạt động tại Venezuela đình trệ. Tại trạm xăng, số người xếp hàng chờ mua cũng dài hàng km.

Ngành dầu mỏ khổng lồ của Venezuela, vốn định hình quốc gia này và thị trường năng lượng quốc tế suốt cả thế kỷ, đã gần như đứng lại. Sản xuất ngày càng giảm do nhiều năm quản lý yếu kém và lệnh trừng phạt của Mỹ. Việc này đã cả hủy hoại cả kinh tế và môi trường của Venezuela. Rất nhiều nhà phân tích cho rằng nó cũng đặt dấu chấm hết cho kỷ nguyên cường quốc dầu mỏ của nước này.

“Những ngày thịnh vượng nhờ dầu mỏ của Venezuela đã qua rồi”, Risa Grais-Targow – nhà phân tích tại Eurasia Group cho biết.

Khói bốc lên tại một cơ sở lọc dầu tại El Palito - nơi gần đây xảy ra tràn dầu. Ảnh: NYT
Khói bốc lên tại một cơ sở lọc dầu tại El Palito – nơi gần đây xảy ra tràn dầu. Ảnh: NYT

Cách đây một thập kỷ, quốc gia này còn là nước sản xuất dầu mỏ lớn nhất Mỹ Latin, kiếm được 90 tỷ USD mỗi năm từ xuất khẩu dầu mỏ. Còn cuối năm nay, con số này được dự báo chỉ là 2,3 tỷ USD, ít hơn cả kiều hối dự kiến, theo Pilar Navarro – một nhà kinh tế học tại Venezuela.

Sản xuất xuống thấp nhất trong gần một thập kỷ sau khi các lệnh trừng phạt của Mỹ buộc các hãng dầu mỏ phải ngừng khai thác hoặc mua dầu của Venezuela. Giới phân tích cảnh báo việc này có thể khiến sản xuất vốn đang nhỏ giọt sớm bốc hơi hoàn toàn.

“Nếu không khoan dầu, không có các công ty cung cấp dịch vụ, không có tiền, rất khó để duy trì kể cả ở mức sản xuất hiện tại”, David Voght – Giám đốc hãng tư vấn IPD Latin America cho biết, “Nếu tình hình chính trị tại đây không đổi, mọi thứ có thể về 0”.

Chỉ một thập kỷ trước, Venezuela còn cạnh tranh với Mỹ về tầm ảnh hưởng trong khu vực. Dầu mỏ từng định hình văn hóa nước này, tạo ra nguồn tiền mặt dường như vô tận, tài trợ cho các công trình công cộng và giúp Venezuela đưa ra các chương trình học bổng hào phóng.

Thiếu thốn nhiên liệu đã khiến người dân Venezuela đổ ra đường biểu tình phản đối trong vài tuần gần đây. Tại thủ đô Caracas, xăng được giao định kỳ từ Iran, trả bằng số vàng dự trữ của Venezuela. Việc này giúp cuộc sống có vẻ bình thường trong khoảng vài tuần. Tuy nhiên, tại các vùng nông thôn, người dân không được như vậy. Họ đổ ra đường biểu tình, bất chấp đại dịch, vì thiếu nhiên liệu cần thiết để duy trì cuộc sống.

Người dân Venezuela xếp hàng chờ mua xăng. Ảnh: NYT
Người dân Venezuela xếp hàng chờ mua xăng. Ảnh: NYT

Trong những năm bùng nổ, hãng dầu quốc doanh Venezuela PDVSA đã cung cấp cho cư dân các thị trấn dầu mỏ, như Cabimas, hàng loạt ưu đãi như miễn phí đồ ăn, trại hè và đồ chơi Giáng sinh. Họ còn xây cả bệnh viện và trường học.

Nhưng giờ đây, hàng chục nghìn nhân viên của hãng dầu đã phá sản này đang phải thu gom sắt vụn từ các cơ sở lọc dầu để bán lấy tiền trang trải cuộc sống. Kể cả đồ bảo hộ của công ty cũng bị bán đi.

Đó là chưa kể vấn đề ô nhiễm môi trường tại các thị trấn dầu mỏ, nơi “vàng đen” từng tạo ra nhiều việc làm và giúp người dân tăng địa vị xã hội. “Chúng tôi từng như những ông hoàng vì sống cạnh PDVSA”, Alexander Rodríguez – một ngư dân tại Cabimas cho biết, “Còn giờ thì hết rồi”. Hai động cơ thuyền của ông còn bị một đợt tràn dầu làm hỏng.

“Chẳng có việc làm, chẳng có xăng, còn dầu thì chảy tràn khắp nơi”, Francisco Barrios – một thợ bánh cho biết.

Dầu mỏ không còn đóng vai trò trung tâm trong nền kinh tế này là sự đảo ngược hoàn toàn so với trước đây. Sau khi các mỏ dầu lớn gần hồ Maracaibo được phát hiện năm 1914, công nhân dầu mỏ Mỹ đã đổ đến Venezuela. Họ đã giúp xây dựng nhiều thành phố tại đây, và truyền vào Venezuela tình yêu bóng bầu dục, rượu whiskey và xe hơi lớn, khiến nước này khác biệt hoàn toàn so với những người hàng xóm Nam Mỹ.

Sau khi xúc tiến thành lập Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) năm 1960, Venezuela đã giúp các nước Arab kiểm soát tài nguyên dầu mỏ, định hình thị trường năng lượng và trật tự địa chính trị toàn cầu trong nhiều thập kỷ sau đó.

Dù vậy, kể cả trong thời kỳ đó, cựu Bộ trưởng Dầu mỏ Venezuela Juan Pablo Pérez Alfonzo cũng cảnh báo việc giàu lên đột ngột nhờ dầu mỏ sẽ có nhiều cạm bẫy. Nó có thể khiến khối nợ phình to và phá hủy các ngành công nghiệp truyền thống.

Trong nhiều năm sau đó, bất chấp nguồn thu dư dả từ dầu mỏ, Venezuela nhanh chóng tích lũy nợ và rơi vào khủng hoảng tài chính. Số của cải này chẳng có mấy tác dụng trong việc giảm bất bình đẳng và tình trạng tham nhũng.

Từ năm ngoái, ngành dầu mỏ càng rơi tự do, khi Mỹ cáo buộc Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro gian lận bầu cử và áp dụng thêm các biện pháp trừng phạt kinh tế mạnh tay để buộc ông từ chức. Việc này khiến các đối tác, ngân hàng và khách hàng dầu mỏ của Venezuela nhanh chóng cắt đứt quan hệ với nước này. Sản lượng dầu mỏ lao dốc còn mạnh hơn cả Iraq thời Chiến tranh Vùng Vịnh và Iran sau Cách mạng Hồi giáo.

Lệnh trừng phạt đã buộc các công ty Mỹ ngừng khoan dầu tại đây. Đến tháng 12 năm nay, họ có thể rút khỏi Venezuela hoàn toàn, nếu chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump chấm dứt lệnh miễn trừ trừng phạt.

Phe đối lập tại Venezuela thì tuyên bố có thể gây dựng lại ngành dầu mỏ nước này bằng cách chấm dứt lệnh trừng phạt của Mỹ và đưa ra các điều khoản hấp dẫn cho nhà đầu tư.

Tuy nhiên, giới phân tích cho rằng ngành dầu mỏ Venezuela không thể thu hút lượng đầu tư đủ để hồi phục hoàn toàn. Trong thời kỳ nhu cầu toàn cầu ì ạch, giá thấp và mối lo về môi trường ngày càng tăng, loại dầu siêu nặng tại nước này lại đặc biệt gây ô nhiễm và có chi phí xử lý rất đắt đỏ.

Việc ngành dầu mỏ sa sút khiến GDP Venezuela giờ chỉ tương đương Cộng hòa Dân chủ Congo. Grais-Targow cho biết gánh nặng của việc kinh tế co lại đang dồn lên người dân nước này. Theo số liệu của Liên hợp Quốc, hơn 5 triệu người Venezuela, tương đương một phần sáu dân số, đã rời đi kể từ năm 2015. Venezuela hiện có tỷ lệ nghèo cao nhất Mỹ Latin, theo nghiên cứu gần đây của ba trường đại học hàng đầu Venezuela.

Gần các nhà máy lọc dầu khổng lồ ở ven biển Venezuela, người dân phải tìm củi và rải lưới bằng tay để tìm thức ăn. Tàu cá của họ phải đỗ trên bờ vì không có xăng, còn bếp thì đã hết gas để đun nấu từ lâu.

Đại dịch và thiếu gas đã khiến các bãi biển ở thành phố Tucacas không còn khách du lịch. Hiện tại, số cá mà rất nhiều người dân ở đây phải dựa vào để tồn tại cũng chẳng còn mấy vì tràn dầu.

Còn ở Cabimas, suốt nhiều thế hệ, người dân nơi này từng tự hào vì là thành phố dầu mỏ của Venezuela. Còn hiện tại, họ chỉ thấy đây là một gánh nặng.

Hà Thu (theo NYT) – Vnexpress

Đọc tiếp

Kinh tế

UOB: Kinh tế Việt Nam dự báo tăng 7,1% vào năm 2021

Đã đăng

 ngày

Bởi

Ngân hàng UOB nâng dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2021 lên 7,1% so với dự báo trước đó là 6,6%.

Báo cáo mới đây của Ngân hàng UOB cho biết, nhờ ảnh hưởng từ đợt dịch thứ hai giảm dần, kinh tế Việt Nam được kỳ vọng phục hồi mạnh mẽ hơn vào quý IV/2020. Cụ thể, dự báo GDP quý cuối có thể đạt 4%, so với dự báo trước là 5,5%.

Cả năm nay, UOB cho rằng kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng 2,8%, so với dự báo trước đó là 3,5%. Tuy nhiên, tăng trưởng của năm 2021 được kỳ vọng sẽ đạt đến 7,1%, so với dự báo trước đó của ngân hàng này là 6,6%.

Mặc dù chịu ảnh hưởng từ Covid-19, kinh tế Việt Nam vẫn tăng trưởng 0,36% trong quý II. Các hoạt động trong nền kinh tế nói chung giảm mạnh ở quý II, với lĩnh vực dịch vụ chịu ảnh hưởng nặng, và chỉ tăng 0,57% trong quý nửa đầu năm 2020, so với mức tăng 7,30% cuối năm 2019. Lĩnh vực sản xuất tốt hơn, với mức tăng 4,96% trong nửa đầu năm, nhưng chưa bằng một nửa của mức 11,29% vào cuối năm 2019.

Cảng Trường Thọ, quận Thủ Đức, TP HCM vào tháng 9/2020. Ảnh: Quỳnh Trần.
Cảng Trường Thọ, quận Thủ Đức, TP HCM vào tháng 9/2020. Ảnh: Quỳnh Trần.

Tuy vậy, theo UOB, Việt Nam đã đạt được thành công trong việc chống dịch. Trong khi các hoạt động đang dần trở lại bình thường, một làn sóng dịch thứ hai tại Đà Nẵng đã ảnh hưởng tới đà phục hồi của Việt Nam. Một ví dụ rõ ràng là sản lượng sản xuất, đã quay lại mức tăng trưởng 6,99% từ hồi tháng 6 so với mức 10,55% vào tháng 4, nhưng đã tụt xuống mức 0,6% vào tháng 8 sau khi áp dụng các biện pháp cách ly.

Lĩnh vực bán lẻ, du lịch bị ảnh hưởng nặng bởi đợt dịch thứ hai, với mức giảm 54,4% vào tháng 8, so với mức giảm 54,1% vào tháng 5. Dù vậy, UOB vẫn cho rằng mức tăng trưởng của Việt Nam vào quý III sẽ là 3%, thấp hơn một chút so với dự báo trước đó là 4,5%.

Đánh giá về tình hình khu vực, UOB nhận định sự phục hồi đã xuất hiện kể từ quý III. Tuy nhiên, tốc độ phục hồi không đồng đều ở các nền kinh tế châu Á.
Giả sử sự phục hồi có thể kéo dài và không bị gián đoạn bởi một làn sóng bùng phát dịch lớn khác, tăng trưởng kinh tế tổng thể ở châu Á sẽ tích cực trở lại vào năm sau.

Nền kinh tế ASEAN có khả năng phục hồi với mức tăng 5,6% vào năm 2021, từ mức giảm dự kiến 3,5% của năm nay. Các dự báo của IMF cho rằng tổng thể
các hoạt động kinh doanh khó có thể trở lại mức trước dịch, ít nhất là đến 2022, ngay cả khi vaccine sẵn sàng vào cuối năm nay vì khâu sản xuất và phân khối sẽ là một thách thức đáng kể.

Viễn Thông – Vnexpress

Đọc tiếp
Advertisement

Facebook

Advertisement

Tin Nổi bật