Kết nối với chúng tôi:

Kinh tế

Ông Vũ Thành Tự Anh: Không thể vừa chống dịch vừa thúc đẩy kinh tế

Đã đăng

 ngày

 
Trong bối cảnh đầy bất định hiện nay, ưu tiên hàng đầu của Chính phủ phải là y tế, tăng trưởng kinh tế chỉ là thứ yếu, theo ông Vũ Thành Tự Anh.

Chia sẻ với , TS Vũ Thành Tự Anh – Giảng viên Trường Chính sách công và quản lý Fulbright nhìn nhận, kinh tế Việt Nam năm nay suy giảm nặng nhưng không đến mức suy thoái, ngay cả khi phải lặp lại việc giãn cách xã hội.

– Ông đánh giá thế nào về cách thức chống dịch của Chính phủ lần này khi chọn cách ly theo cụm chứ không giãn cách toàn xã hội như trước?

– Đây là dấu hiệu cho thấy Việt Nam đã cảm nhận rõ rệt hơn về sự đánh đổi giữa một bên là y tế và bên kia là kinh tế, giữa bảo vệ sinh mạng và duy trì sinh kế. So với đợt dịch trước, có vẻ như trọng số kinh tế đang tăng.

Mặt khác, kinh nghiệm chống dịch vừa qua cho chúng ta một bài học quan trọng về điều chỉnh phong toả, cách ly linh hoạt hơn. Và khi linh hoạt như thế, tác động tới kinh tế sẽ hạn chế hơn. Tôi nghĩ cách tiếp cận khoanh vùng của Chính phủ là đúng đắn, tránh trường hợp “một người ốm bắt cả làng uống thuốc”.

Chuyên gia kinh tế Vũ Thành Tự Anh. Ảnh: Thanh Huế.
Chuyên gia kinh tế Vũ Thành Tự Anh chia sẻ về những thách thức với nền kinh tế trong đợt dịch mới hôm 10/8 tại Hà Nội. Ảnh: Thanh Huế.

Tuy nhiên, cái gì cũng có hai mặt. Nếu vì lý do nào đó không kiểm soát được sự lây lan của virus, bỏ qua một điểm dịch, những mầm bệnh này chỉ là vài tia lửa nhỏ nhưng có thể tạo thành đám cháy lớn. Do vậy, khi Chính phủ chọn phương án này thì đồng thời phải nâng cao mức độ cảnh báo và kiểm soát dịch ở các địa phương, tuyệt đối không được chủ quan. Trong bối cảnh dịch đã lan rộng trong cộng đồng như ở Đà Nẵng, chỉ một sai sót nhỏ cũng có thể gây ra hệ quả lớn.

Như tôi đã chia sẻ trước đây, nếu chống dịch không thành công, nền kinh tế chắc chắn thất bại. Kiểm soát được dịch, kinh tế sẽ có khả năng phục hồi. Nếu không, khủng hoảng y tế chắc chắn dẫn đến khủng hoảng kinh tế. Kinh nghiệm của thế giới đã cho thấy điều đó. Vấn đề còn lại là tùy mức độ dịch bệnh mà Việt Nam cần những biện pháp ứng xử phù hợp.

– Vậy để tránh khủng hoảng y tế xảy ra khi nền kinh tế vẫn duy trì sự vận động cần lưu ý điều gì?

– Mục tiêu của Việt Nam là vừa chống dịch, vừa duy trì, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng. Tôi nghĩ bây giờ nên bỏ chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng kinh tế đi. Làm sao đòi hỏi nền kinh tế tăng trưởng cao khi cả thế giới đang trong “cơn đại hồng thuỷ”?

Do vậy, mục tiêu năm nay đơn giản là tăng trưởng ở mức độ tối đa có thể trong điều kiện giữ ổn định và an toàn tốt nhất về y tế. Khi y tế – lĩnh vực quan trọng nhất – đã ổn rồi thì tăng trưởng kinh tế được bao nhiêu chúng ta chấp nhận bấy nhiêu. Đừng đưa ra bất kỳ một mục tiêu cụ thể nào, vì điều đó là vô nghĩa. Thế giới bây giờ cũng không nói được tăng trưởng sẽ là bao nhiêu.

Tất nhiên, chúng ta có thể đưa ra dự báo, nhưng khi bị trói chặt vào một con số tăng trưởng là tự đặt mình vào tình trạng rủi ro lớn về y tế. Để đạt được mục tiêu tăng trưởng, chúng ta có thể sẽ phải thoả hiệp với các biện pháp y tế, dẫn đến chậm cách ly, giãn cách ngay cả khi cần thiết.

Để tránh khủng hoảng y tế, cần đảm bảo kiểm soát được dịch bên trong, đồng thời không bị lây nhiễm từ các ca nhập khẩu ra cộng đồng. Khi ấy, nếu duy trì được kinh tế nội địa thì tuy xuất khẩu có bị giảm vài điểm phần trăm cũng không thể làm nền kinh tế rơi vào suy thoái, tức là có tốc độ tăng trưởng âm được.

Đừng băn khoăn khi Việt Nam phải chấp nhận hạn chế du lịch, đầu tư nước ngoài. Chỉ cần một vài ca dính bệnh, nền kinh tế trong nước lại trở nên bất định, thậm chí đóng cửa trở lại. Cái giá của việc cả nước phải giãn cách, người dân sống trong sợ hãi với một vài dự án đầu tư, du lịch, nếu mang lên bàn cân so sánh, bên nào nặng hơn?

Điều đáng lo ngại giờ đây là tâm lý chủ quan, tăng trọng số của kinh tế, giảm trọng số của y tế. Đầu năm tới Đại hội Đảng, tôi cho rằng Chính phủ đã đạt được thành tích kép là chống được dịch và giữ kinh tế không suy thoái. Không dễ gì để người dân cảm thấy tin tưởng, đồng thuận với những chính sách của Nhà nước như lần này. Chính phủ nên coi chống dịch thành công và ngăn chặn suy thoái là thành tích quan trọng nhất, chứ không nhất thiết phải cố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Xe buýt phải dừng hoạt động, xếp hàng dài trong bãi đỗ dưới chân cầu Thuận Phước (quận Hải Châu trong những ngày tái cách ly xã hội. Ảnh: Nguyễn Đông.
Xe buýt phải dừng hoạt động, xếp hàng dài trong bãi đỗ dưới chân cầu Thuận Phước (quận Hải Châu, Đà Nẵng) trong những ngày tái cách ly xã hội. Ảnh: Nguyễn Đông.

– Nếu ưu tiên sức khoẻ, kịch bản cách ly toàn xã hội một lần nữa có thể lặp lại. Nếu tình hình xấu hơn, ông đánh giá thế nào về sức chống chịu của nền kinh tế?

– Nếu số liệu thống kê của chúng ta là đúng thì kinh tế Việt Nam sẽ không suy thoái. Trong quý I, tháng 1, tháng 2 là Tết, mọi người vẫn đi lại, tiêu dùng bình thường, sản xuất bị đình trệ một chút vì nghỉ tết, tăng trưởng vẫn đạt 3,68%, tức là mất khoảng 2 điểm phần trăm khi dịch diễn ra vào tháng 3.

Sang quý II, đặc biệt là tháng 4 và 5 bị ảnh hưởng nặng nề do Covid-19, kinh tế vẫn tăng trưởng 0,36%. Lúc đó chúng ta vẫn sản xuất chứ không đóng cửa hoàn toàn, hoạt động nông nghiệp vẫn được duy trì, xuất khẩu vẫn ổn.

Điều này có nghĩa là ngay trong trường hợp giãn cách xã hội nghiêm ngặt thì kinh tế cũng chưa đến độ suy thoái.

Thế nhưng, khi dịch bùng phát lần hai, bên cạnh những vấn đề cũ như xuất nhập khẩu gặp khó, chuỗi cung ứng, dòng vốn đầu tư bị gián đoạn…, nền kinh tế sẽ đối diện thêm những yếu tố mới.

Đầu tiên đó là sức chống chịu đã giảm. Mỗi lần giãn cách xã hội với doanh nghiệp và người dân giống như một lần phải ngụp đầu xuống nước và nín thở. Lần “nín thở” thứ hai, nếu xảy ra, sẽ rất khác vì thể trạng của nền kinh tế, bao gồm cả ngân sách nhà nước, doanh nghiệp, người tiêu dùng đều đã mất sức rất nhiều qua đợt “nín thở” đầu tiên.

Thứ hai là sự bất định. Sau khi kiểm soát dịch thành công với hơn 3 tháng không có ca nhiễm mới, Việt Nam đã tính đến mở cửa lại du lịch, tích cực đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài… Tuy nhiên, khi bệnh nhân đầu tiên ở Đà Nẵng xuất hiện, chúng ta mới thấy một thực tế phũ phàng, không thể chủ quan được khi mức độ bất định của đại dịch này vô cùng khủng khiếp. Đến giờ, thế giới cũng đang có những dấu hiệu rõ rệt về làn sóng thứ hai của Covid-19 và có thể trở nên nghiêm trọng hơn vào mùa đông này.

Sự bất định này khiến doanh nghiệp không dám đầu tư, mở rộng sản xuất, người tiêu dùng với tâm lý lo sợ thì cũng khó mở hầu bao. Chẳng hạn việc đi du lịch không còn nữa, giờ ra sân bay chỉ ai có việc mới phải đi thôi.

– Vậy theo ông có cách nào để giảm đau?

– Nếu chúng ta bảo vệ được các nhóm dễ bị tổn thương gồm khu vực phi chính thức, doanh nghiệp nhỏ và vừa, một số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bị tác động nghiêm trọng bởi Covid-19…, kinh tế về cơ bản sẽ duy trì được tối thiểu ở mức tương tự năm 2019, tăng trưởng chắc chắn sẽ thấp, nhưng cũng sẽ không đến mức suy thoái.

Điều quan trọng nhất bây giờ, tương tự cách ly địa điểm bị dịch, là phải khu trú được những khu vực trong nền kinh tế bị tổn thương và hỗ trợ những khu vực này thật tốt. Để làm được điều này một cách hiệu quả, cần tiếp cận có trọng điểm và kịp thời. Chính quyền địa phương có vai trò hết sức quan trọng trong việc thực thi và triển khai chính sách hỗ trợ, nhờ đó duy trì việc làm và hạn chế tối đa tổn thương cho doanh nghiệp và người dân.

Phương Ánh – Vnexpress

Kinh tế

Hai phụ nữ Việt vào top nữ doanh nhân quyền lực châu Á

Đã đăng

 ngày

Bởi

Forbes năm nay vinh danh bà Nguyễn Bạch Điệp – Chủ tịch FPT Retail và bà Trương Thị Lệ Khanh – Chủ tịch Công ty Vĩnh Hoàn.

Tạp chí Forbes vừa công bố danh sách 25 nữ doanh nhân quyền lực tại châu Á năm 2020. Danh sách năm nay gồm các đại diện trong nhiều lĩnh vực, từ công nghệ sinh học, fintech đến các ngành truyền thống hơn như bán lẻ, logistics và luật. Những người được chọn đều có thành tựu khi điều hành một công ty có doanh thu lớn hoặc thành lập một startup được định giá hơn 1 tỷ USD.

Forbes đánh giá đại dịch đang thử thách khả năng lãnh đạo của các doanh nhân. Tuy nhiên, 25 phụ nữ trong danh sách đã vượt qua thách thức này và chứng minh sự can đảm của mình trong thời kỳ khó khăn.

Năm nay, Việt Nam có hai đại diện. Đó là bà Nguyễn Bạch Điệp – Chủ tịch FPT Retail và bà Trương Thị Lệ Khanh – Nhà sáng lập kiêm Chủ tịch Công ty Vĩnh Hoàn.

Bà Trương Thị Lệ Khanh (trái) và bà Nguyễn Bạch Điệp (phải). Ảnh: Forbes
Bà Trương Thị Lệ Khanh (trái) và bà Nguyễn Bạch Điệp (phải). Ảnh: Forbes

Bà Khanh năm nay 59 tuổi. 23 năm qua, bà đã gây dựng Vĩnh Hoàn thành công ty thủy sản có vốn hóa lớn nhất Việt Nam. Năm ngoái, công ty cũng đạt kết quả kinh doanh tốt nhất trong ngành thủy sản, với lợi nhuận ròng 50 triệu USD và doanh thu 340 triệu USD. Bà Khanh đã có 10 năm làm việc tại các công ty nhà nước trước khi thành lập Vĩnh Hoàn năm 1997. Hiện tại, công ty có hơn 6.000 nhân viên và 6 nhà máy chế biến.

Do doanh thu Vĩnh Hoàn phần lớn đến từ thị trường quốc tế, bà cho biết sự suy giảm trong ngành thực phẩm – đồ uống toàn cầu năm nay có thể khiến doanh thu của công ty giảm 20%. Để tìm động lực tăng trưởng mới, bà dự kiến tăng phục vụ thị trường nội địa và tăng hợp tác tại châu Âu.

Bà Nguyễn Bạch Điệp (48 tuổi) gia nhập FPT năm 1997 sau khi tốt nghiệp chuyên ngành quản trị kinh doanh tại Đại học Mở TP HCM. Bà chuyển sang FPT Retail cách đây 8 năm và trở thành chủ tịch năm 2017. Bà đã góp phần đưa công ty trở thành hãng bán lẻ đồ điện tử lớn nhì Việt Nam, tính theo số cửa hàng, với hơn 630 cơ sở trên cả nước.

Năm 2017, FPT Retail bổ sung dược phẩm vào danh sách mảng kinh doanh, sau khi mua cổ phần lớn trong chuỗi hiệu thuốc Long Châu. Hiện tại, chuỗi này đã phát triển từ 4 lên 160 cửa hàng. Để đáp ứng nhu cầu gia tăng trong mùa dịch, FPT Retail lên kế hoạch mở thêm 60 hiệu thuốc nữa trong năm nay.

Trong danh sách năm ngoái của Forbes, Việt Nam cũng có hai đại diện. Đó là bà Nguyễn Thị Phương Thảo – nhà sáng lập kiêm CEO Vietjet Air và bà Trần Thị Lệ – CEO Nutifood.

Hà Thu (theo Forbes) – Vnexpress

Đọc tiếp

Kinh tế

‘Việt Nam đủ lớn cho kế hoạch dịch chuyển đầu tư của doanh nghiệp Nhật’

Đã đăng

 ngày

Bởi

Thủ tướng cho biết sẽ tạo mọi điều kiện, cải thiện hơn nữa môi trường kinh doanh để việc mở rộng đầu tư của 15 doanh nghiệp Nhật thành công.

Chiều 7/9, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc gặp gỡ với các doanh nghiệp Nhật Bản có ý định mở rộng đầu tư tại Việt Nam. Cuộc gặp diễn ra trong bối cảnh Chính phủ Nhật Bản công bố hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp nước này dịch chuyển chuỗi sản xuất sang một số quốc gia, trong đó có Việt Nam. 15 doanh nghiệp trong đợt đầu tiên được nhận hỗ trợ từ phía Chính phủ Nhật cho biết sẽ mở rộng đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam.

Nhận xét cộng đồng doanh nghiệp Nhật là “những nhà đầu tư nghiêm túc, chú trọng bảo vệ môi trường, giữ chữ tín”, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định, thị trường Việt Nam đủ lớn cho các kế hoạch đầu tư kinh doanh tham vọng, chiến lược tái cấu trúc, dịch chuyển chuỗi cung ứng của các nhà đầu tư Nhật Bản.

Đại sứ Nhật Bản Yamada Takio nói, các nhà đầu tư Nhật Bản đang quan tâm nhiều đến Việt Nam, nơi đầu tư trong điều kiện bình thường mới hậu Covid-19. Ông đề xuất mở lại việc đi lại giữa hai nước, cải thiện việc giải ngân cho các dự án đầu tư công hiện nay, thu hút nhiều hơn nữa đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, nâng cao xếp hạng tín dụng của Việt Nam.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho hay, ngoài việc sửa đổi một số luật, Chính phủ Việt Nam đã lập tổ công tác thúc đẩy hợp tác đầu tư nước ngoài để nắm bắt cơ hội hợp tác đầu tư, xử lý nhanh nhất các kiến nghị của nhà đầu tư lớn đến Việt Nam. Trong trạng thái bình thường mới, Việt Nam sẽ mở lại các chuyến bay thương mại tới một số nước có hệ số an toàn cao, trong đó có Nhật Bản, với quy trình thủ tục nhập cảnh rút gọn, đảm bảo chống dịch, thuận lợi kinh doanh.

Thủ tướng chứng kiến lễ ký MOU giữa Cục Đầu tư nước ngoài Việt Nam và Jetro Nhật Bản. Ảnh: VGP.
Thủ tướng chứng kiến lễ ký MOU giữa Cục Đầu tư nước ngoài Việt Nam và Jetro Nhật Bản. Ảnh: VGP.

Tại cuộc đối thoại, các doanh nghiệp Nhật Bản cũng nêu ra nhiều vấn đề trong hợp tác đầu tư tại Việt Nam như nguồn nhân lực, phát triển một số lĩnh vực mới, công nghiệp hỗ trợ, về nghiên cứu và phát triển…

Đại diện Hiệp hội Doanh nghiệp Nhật Bản (JCCI) đề xuất Việt Nam tạo cơ chế ưu đãi đầu tư với ngành sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng năng lượng theo phương thức PPP, hay cho phép doanh nghiệp Nhật Bản góp vốn vào các doanh nghiệp nhà nước… Ví dụ, ở Nhật Bản ngoài các doanh nghiệp nòng cốt, còn có các doanh nghiệp hợp tác, có sự phân công về vai trò trong một chuỗi hoạt động sản xuất khá phức tạp và mạnh mẽ. Như vậy, việc thu hút đầu tư theo hình thức là thu hút cả chuỗi sản xuất chứ không chỉ thu hút các doanh nghiệp nòng cốt. Từ đó, đầu tư của các doanh nghiệp nòng cốt của Nhật Bản sang Việt Nam sẽ trở nên dễ dàng hơn.

JCCI cũng mong muốn Chính phủ Việt Nam xem xét mở rộng hơn nữa cơ chế ưu đãi cho các công nghệ tiên tiến cũng như các doanh nghiệp mở rộng đầu tư với quy mô lớn, xây dựng cơ chế ưu đãi cho một chuỗi sản xuất chứ không chỉ cho một doanh nghiệp.

Ghi nhận kiến nghị từ phía doanh nghiệp Nhật Bản, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu các bộ, ngành, địa phương nhanh chóng tháo gỡ các vướng mắc thuộc thẩm quyền.

Anh Minh – Vnexpress

Đọc tiếp

Kinh tế

Tương lai bấp bênh của lao động ngành dịch vụ Mỹ

Đã đăng

 ngày

Bởi

Khi các công ty dần chuyển sang làm việc từ xa, những lao động phổ thông chuyên phục vụ nhân viên văn phòng sẽ thiệt hại nhiều nhất.

16/3 là ngày cuối cùng David Engelsman làm việc tại Jackrabbit, một nhà hàng nổi tiếng tại khách sạn Duniway ở trung tâm thành phố Portland (bang Oregon, Mỹ). Ngay trước khi ca làm việc bắt đầu, Engelsman, người chịu trách nhiệm chính phục vụ bữa sáng ở nhà hàng, được thông báo rằng công việc của anh không còn cần thiết nữa. Hôm đó, anh ra về sớm, lúc 10h30 sáng và nhà hàng cũng không mở cửa trở lại vào ngày hôm sau.

Hơn 330 nhân viên làm việc tại Duniway và một cơ sở khác cũng thuộc tập đoàn Hilton bên kia đường đã bị cho thôi việc kể từ hôm đó. Với hai đứa con mắc chứng tự kỷ, một người vợ bị bệnh tim nặng và hiện không có bảo hiểm y tế, Engelsman gần như dành hầu hết thời gian cùng công đoàn Unite Here yêu cầu Hilton chịu trách nhiệm bảo hiểm sức khoẻ cho những nhân công bị sa thải đến cuối năm. Anh nói: “Chúng tôi rời đi mà không có gì cả. Tôi biết tôi có thể đang trầm trọng hóa vấn đề, nhưng nó thực sự là bi kịch”.

Báo cáo hàng tháng của chính phủ Mỹ công bố thứ sáu tuần trước cho thấy 11,5 triệu việc làm đã bị mất kể từ tháng 2. Việc tuyển dụng cũng đang đình trệ. Những câu chuyện tương tự Engelsman ngày càng trở nên phổ biến. Khi các công ty cho nhân viên văn phòng làm việc từ xa, cắt giảm các chuyến công tác, huỷ các cuộc gặp mặt, họ cũng loại bỏ luôn các công việc dịch vụ như dọn dẹp văn phòng, lưu trú, chuyên chở và cả việc phục vụ bữa trưa cho nhóm nhân viên này.

Đối với những người làm dịch vụ tại khu vực đô thị ở Mỹ, đại dịch có nguy cơ trở thành cú sốc kinh tế ngắn hạn. Nếu nhân viên văn phòng không quay lại, các nhân viên dịch vụ cũng không còn ai để phục vụ.

Đầu bếp tại một nhà hàng ở Atlanta (Mỹ) hồi tháng 4 năm nay. Ảnh: NYT
Đầu bếp tại một nhà hàng ở Atlanta (Mỹ) hồi tháng 4 năm nay. Ảnh: NYT

Nỗi lo này trở nên đặc biệt lớn ở những thành phố tập trung các lao động không có trình độ đại học trong hàng thập kỷ qua. Làm việc từ xa đang triệt tiêu mọi cơ hội và đè nặng áp lực lên họ. Các nhà bán lẻ như J.C. Penney và Neiman Marcus sụp đổ đã xóa sổ nhiều công việc phổ thông. Du lịch lao dốc tại các thành phố như New York và San Francisco sẽ còn khiến nhiều người mất việc nữa.

Maria Valdez từng là phụ trách buồng phòng tại Grand Hyatt ở San Antonio và đã bị cho nghỉ. Cô đang cùng ba đứa con đang chia nhau số tiền trợ cấp thất nghiệp 314 USD mỗi tuần. Kimber Adams thì mất công việc nhân viên pha chế tại Sân bay Quốc tế Seattle -Tacoma, đang kỳ vọng vào “Kế hoạch B” là trở thành một kỹ thuật viên lấy máu. Waldo Cabrera từ bỏ công việc dọn dẹp cabin tại hãng hàng không American Airlines và đặt hy vọng vào một lời mời làm lái xe chở dầu ở Texas nếu anh kịp đi khỏi Miami vào cuối năm nay. “Tôi phải rời khỏi đây thôi”, anh nói.

Mari Duncan may mắn là vẫn đang được nhận lương dù công việc ướp thịt và nấu súp tại khuôn viên của Facebook ở Seattle đã kết thúc khi công ty cho các quản lý và kỹ sư làm việc tại nhà. Nhưng cô lo sợ rằng thỏa thuận giữa Facebook và nhà thầu dịch vụ thực phẩm (nơi cô ký hợp đồng) không thể kéo dài mãi. Mari chia sẻ: “Khi thấy thông báo của Facebook về việc họ sẽ tiếp tục làm việc từ xa đến tháng 7/ 2021, tôi cũng hơi lo lắng”.

Gần như tất cả bọn họ đều sẵn sàng trở lại làm việc. Nhưng kèm theo đó là nỗi sợ hãi rằng kể cả khi đại dịch qua đi, nền kinh tế “kiểu mới” có thể sẽ không còn những công việc “kiểu cũ”. “Một số công ty luật nhận thấy rằng luật sư của họ sẽ làm việc hiệu quả hơn khi ở nhà”, Kristinia Bellamy, nhân viên lao công mất việc tại môt tòa nhà văn phòng ở trung tâm Manhattan cho biết,”Đây có thể là khởi đầu cho sự kết thúc của những tòa nhà văn phòng thương mại kiểu này.”

Quyết định cho nhân viên tại Portland làm việc ở nhà đầu năm nay của Nike ở Portland cũng ảnh hưởng đến Aramark – đơn vị điều hành căng tin tại đây – và các nhân viên của họ. Aramark đã thông báo cho hơn 378 nhân viên của mình, bao gồm bồi bàn, đầu bếp, thu ngân… rằngsẽ phải đối mặt với việc sa thải vĩnh viễn kể từ 25/9 vì nhu cầu của đối tác không như dự kiến.

Câu hỏi là, tình trạng này có phải là tạm thời hay không. Có tới 20% số người trưởng thành trong độ tuổi lao động không có bằng đại học sống ở các khu vực đô thị lớn có mật độ dân số cao nhất Mỹ – theo ước tính của David Autor, Học viện Công nghệ Massachusetts. Hầu hết họ làm trong các ngành dịch vụ phục vụ nhu cầu của tầng lớp “công nhân tri thức” giàu có, vốn từng đổ xô về thành phố để tận hưởng mức lương cao và cuộc sống tiện nghi.

Khi có Zoom, liệu công ty nào sẽ chịu chi để đưa một nhà quản lý đi khắp đất nước cho các cuộc họp dài ngày? Việc giảm lượng khách công tác cũng kéo theo rắc rối cho nhóm khách sạn và nhà hàng chuyên phục vụ nhóm khách doanh nghiệp.

Jonathan Dingel và Brent Neiman của Đại học Chicago đã tính toán rằng 37% công việc có thể được thực hiện hoàn toàn tại nhà. Những công việc đó có xu hướng được trả lương cao, trong các lĩnh vực như dịch vụ pháp lý, lập trình máy tính và dịch vụ tài chính. Chúng thường tập trung ở những vùng giàu có như San Francisco; Stamford (bang Connecticut) và Raleigh (bang Bắc Carolina)

Sự thay đổi hành vi của tầng lớp lao động thu nhập cao trên thị trường lao động ở thành thị có tác động rất lớn. Nhiều công việc dịch vụ đang chật vật tồn tại trong thời kỳ hiện đại hoá và tự động hoá có thể sẽ biến mất.

Tại Portland, Intel là công ty tư nhân có số lao động lớn nhất, với khoảng 20.000 người, chủ yếu có thu nhập cao. Intel cũng đang nuôi sống một mạng lưới các nhà thầu và nhà thầu phụ.

Hiện chỉ có khoảng 40% nhân viên của Intel đang làm việc tại công ty. Đây là những vị trí không thể thiếu trong các nhà máy sản xuất chip khổng lồ của hãng. Làm việc từ xa sẽ tiếp tục được triển khai cho đến ít nhất là vào tháng 6 tới.

Đối với các doanh nghiệp phụ thuộc vào Intel, đó không hẳn là một tin tốt. Rick Van Beveren, người sở hữu một quán cà phê và một nhà hàng đã đóng cửa cho biết: “Intel đã duy trì hoạt động cho chúng tôi. Tiệm của tôi gần như chỉ phục vụ Intel và các doanh nghiệp liên quan đến họ”.

Restaurant Associates – điều hành các nhà ăn tại các công ty bao gồm Google, The New York Times, các nhà hàng tại Smithsonian và câu lạc bộ Quadrangle của Đại học Chicago – đã tuyển dụng 10.500 nhân công trước đại dịch. Công ty cũng đang vật lộn để tìm hướng kinh doanh mới – cung cấp thức ăn cho nhân viên y tế, hoặc nấu các bữa ăn giao tận nhà. Dù vậy, giám đốc điều hành Dick Cattani cho biết hiện chỉ có một nửa trong số họ đang làm việc.

Dĩ nhiên, nhóm ngành dịch vụ sử dụng lao động phổ thông bị chính quyền thành phố và các tiểu bang đóng cửa với hy vọng ngăn chặn đại dịch. Nhiều người ở nhà để giảm nguy cơ lây nhiễm. Có lẽ lệnh phong toả và nỗi sợ hãi sẽ giảm bớt khi vaccine hoặc phương pháp điều trị Covid-19 được tìm ra.

Ví dụ, Amazon, Facebook và Google dự kiến bổ sung hàng nghìn công nhân tại New York. Scott Rechler – Giám đốc hãng bất động sản RXR Realty nói: “Sẽ mất thời gian để hồi phục. Nhiều doanh nghiệp nhỏ có thể không tồn tại được. Nhưng sẽ có thêm nhiều chuyến bay về lại với đô thị bởi nhóm lao động trẻ thế hệ tiếp theo vẫn sẽ muốn đến với New York”.

Cattani lại xem đây là cơ hội để mua các doanh nghiệp mới. Và công ty ông đang mở rộng nhóm khách bệnh viện, phục vụ ăn uống cho bệnh nhân và người thăm thân. John Alschuler – Chủ tịch công ty tư vấn bất động sản HR&A Advisors cho biết: “Covid không thể thay đổi năng lượng tiềm ẩn của những người làm công việc sáng tạo dù họ chỉ ở một chỗ”.

Phần lớn lực lượng lao động Mỹ hy vọng ông nói đúng. Engelsman không biết mình sẽ trả tiền thuốc cho vợ như thế nào khi chỉ riêng một liều thuốc dùng trong điều trị bệnh tim có giá lên tới 580 đôla một tháng. Cabrera thì đã phải sử dụng đến tiền bảo hiểm khi xe anh bị đụng, và giờ thì không còn cả xe để lái.

Angel Carter từng làm công việc dọn dẹp 3 tầng tại tòa nhà Center City ở Philadelphia, vàđã bị cho nghỉ hồi tháng 3. Cô cho biết những người làm vệ sinh ở các toà nhà như mình đang là đối tượng chịu nguy cơ lớn tới sức khoẻ. Trong khi đó, công việc của cô hiện trở nên quan trọng hơn bao giờ hết bởi đại dịch yêu cầu các văn phòng phải được làm sạch cực kỳ kỹ lưỡng. Cô cho rằng công việc này nên có thêm phụ cấp rủi ro. Nhưng trên hết, Carter giờ chỉ “cầu nguyện rằng họ sẽ mở cửa trở lại”.

Phan Thy (theo New York Times) – Vnexpress

Đọc tiếp
Advertisement

Facebook

Advertisement

Tin Nổi bật