Kết nối với chúng tôi:

Thế giới

Lá thư Đài Loan thổi bùng lửa căng thẳng Mỹ – WHO

Đã đăng

 ngày

 
6h30 ngày 31/12/2019, La Nhất Quân, phó tổng giám đốc CDC Đài Loan, tỉnh giấc khi nhận được thông báo có tin nhắn trên điện thoại.

Các đồng nghiệp của ông trong đơn vị giám sát mạng xã hội thuộc Trung tâm Phòng ngừa và Kiểm soát Dịch bệnh Đài Loan (CDC) phát hiện một số bài đăng về bệnh viêm phổi không rõ nguyên nhân ở Vũ Hán. Bài đăng gốc ở Trung Quốc đại lục đã nhanh chóng bị xóa, nhưng ảnh chụp màn hình được đăng lại trên PTT, một diễn đàn trực tuyến phổ biến ở Đài Loan. Một số người bình luận lo lắng SARS xuất hiện trở lại.

Khi nhìn ảnh chụp các báo cáo của phòng thí nghiệm cũng như tin nhắn trao đổi giữa các bác sĩ ở Vũ Hán, La, một chuyên gia về bệnh truyền nhiễm, nghi ngờ có gì đó mới mẻ, không phải SARS, đã xảy ra bên kia eo biển Đài Loan.

“Nhưng nguồn tin có đáng tin cậy hay không và việc đọc những thông tin này cũng không thể chứng minh được một loại bệnh mới đã xuất hiện”, La kể lại suy nghĩ của ông lúc đó. Bởi vậy, ông yêu cầu đồng nghiệp ở CDC liên lạc bằng email với các đối tác ở Bắc Kinh và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) để hỏi thêm thông tin.

“Các nguồn tin tức hôm nay cho thấy ít nhất 7 ca viêm phổi không điển hình được báo cáo ở Vũ Hán, Trung Quốc. Giới chức y tế thành phố trả lời truyền thông rằng các ca bệnh này không phải SARS, nhưng các mẫu bệnh phẩm đang được xem xét và bệnh nhân đã được cách ly để điều trị. Tôi sẽ rất biết ơn nếu các ông chia sẻ những thông tin liên quan với chúng tôi”, các đồng nghiệp của ông La viết trong email.

Nhân viên y tế di chuyển bệnh nhân ở Vũ Hán hồi tháng một. Ảnh: AFP.
Nhân viên y tế di chuyển bệnh nhân ở Vũ Hán hồi tháng một. Ảnh: AFP.

Khoảng 13h30 chiều hôm đó, Ủy ban Y tế thành phố Vũ Hán công bố 27 ca viêm phổi liên quan đến chợ hải sản Hoa Nam. Họ tuyên bố kết quả điều tra cho thấy “không có dấu hiệu lây nhiễm từ người sang người rõ ràng”.

Ba tuần sau, chuyên gia hàng đầu của chính phủ Trung Quốc mới xác nhận virus có thể lây từ người sang người vào ngày 20/1. Hai ngày sau, WHO ra tuyên bố nói rằng tình trạng lây từ người sang người đang diễn ra ở Vũ Hán.

Nhưng Đài Loan không chờ đến lúc đó mới thực hiện các biện pháp phòng ngừa. Ngay từ ngày 31/12/2019, hòn đảo bắt đầu sàng lọc y tế tất cả hành khách bay tới từ Vũ Hán. “Chúng tôi không nhận được câu trả lời thỏa đáng từ WHO hoặc từ Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Trung Quốc (CCDC). Chúng tôi lo lắng và bắt đầu chuẩn bị đề phòng”, lãnh đạo cơ quan ngoại giao Đài Loan Joseph Wu nói.

Email ông La yêu cầu đồng nghiệp gửi cho WHO cuối cùng gây ra cơn bão địa chính trị. Hồi tháng ba, quan chức số hai Đài Loan Trần Kiến Nhân, vốn là nhà dịch tễ học, nói với Financial Times rằng WHO đã phớt lờ cảnh báo sớm của hòn đảo về việc nCoV có thể lây từ người sang người.

Tuyên bố này của ông Trần đã “đổ thêm dầu vào lửa” căng thẳng giữa Mỹ và WHO, khi Washington cáo buộc tổ chức này “thông đồng” với Trung Quốc để che giấu dịch bệnh và khiến thế giới lãng phí thời gian quý báu chuẩn bị ứng phó với Covid-19. Theo Bộ Ngoại giao Mỹ, WHO đã “đặt chính trị lên trên y tế công cộng” khi không chuyển thông tin quan trọng này cho các quốc gia thành viên.

Đài Loan không có tư cách thành viên tại WHO do Bắc Kinh phản đối với lập luận rằng hòn đảo là một phần lãnh thổ chờ thống nhất của Trung Quốc. Đài Loan nói việc họ bị “ra rìa” đe dọa tới nền y tế công cộng. Chính quyền Trump cũng tập trung vào vấn đề này khi chỉ trích mối quan hệ giữa WHO với Trung Quốc. Trong khi đó, WHO khẳng định họ đã chia sẻ thông tin liên quan đến đại dịch với Đài Loan.

Khi căng thẳng leo thang và sau khi tổng giám đốc WHO Tedros Adhanom Ghebreyesus cáo buộc Đài Loan hậu thuẫn chiến dịch phân biệt chủng tộc chống lại ông, giới chức Đài Loan đã công khai email gửi ngày 31/12/2019.

Cơ quan ngoại giao Đài Loan cho rằng việc họ sử dụng cụm từ “cách ly để điều trị” trong email là bằng chứng “cho thấy rõ ràng có nguy cơ virus lây từ người sang người, vì nếu không lây nhiễm thì biện pháp cách ly đó không cần thiết”. Đài Loan lập luận các quan chức y tế công cộng hẳn phải nhận ra cách diễn đạt này ẩn ý cảnh báo nCoV lây từ người sang người.

Tuy nhiên, các chuyên gia y tế có ý kiến trái ngược về vấn đề này. Một số người đồng ý với lập luận của Đài Loan. Số khác thì nói rằng cách ly bệnh nhân có khả năng mang mầm bệnh mới là biện pháp phòng ngừa hiển nhiên nên không đủ để nói lên điều gì.

WHO bác bỏ cáo buộc phớt lờ cảnh báo từ Đài Loan. Phát ngôn viên Tarik Jasarevic nói rằng WHO nhận được email từ Đài Loan sau khi Vũ Hán đã thông báo về dịch. Email không đề cập đến việc nCoV lây từ người sang người, nhưng vẫn được chuyển đến các chuyên gia đối chiếu thông tin về dịch bệnh.

Theo Tedros, Đài Loan không phải là bên đầu tiên cảnh báo về tình hình ở Vũ Hán. “Nhiều bên khác trước đó đã yêu cầu làm rõ thông tin”, ông nói. Phát ngôn viên của WHO Paul Garwood cho biết vào ngày 31/12/2019, một cơ quan y tế từ một khối quốc gia và một nước khác đã cảnh báo về dịch và yêu cầu có thêm thông tin, dù họ không cảnh báo virus lây từ người sang người. Garwood không thể tiết lộ những bên này là ai vì đây là thông tin mật.

Nhiều chuyên gia y tế, học giả và quan chức chính phủ, đặc biệt là Mỹ, chỉ trích WHO quá “cả tin” Trung Quốc. Trong khi đó, WHO lập luận rằng họ tin tưởng mỗi quốc gia thành viên có trách nhiệm báo cáo thông tin trung thực. 

Đối với Đài Loan, những điều từng xảy ra trước đây khiến họ hoài nghi. Hòn đảo từng bị ảnh hưởng nặng nề trong SARS khi Trung Quốc đại lục ban đầu tìm cách che đậy dịch. Vì vậy, khi một bệnh viêm phổi bất thường khác xuất hiện, giới chức y tế nhanh chóng nhập cuộc.

Hai bác sĩ lâm sàng Đài Loan, cùng với các chuyên gia từ Hong Kong và Macau, thuộc một trong những phái đoàn tìm hiểu thông tin đầu tiên đến Vũ Hán. Chuyến đi diễn ra ngày 13-15/1, trùng vào thời điểm các quan chức Vũ Hán thông báo không ghi nhận ca nhiễm mới trong một hội nghị đảng. Chợ hải sản Hoa Nam, được cho là nơi virus khởi phát, bị đóng cửa. Nhiều người tin rằng dịch sẽ sớm kết thúc dù phái đoàn nhận thấy những chi tiết khả nghi.

Chuang Yin-ching, một trong những chuyên gia trong phái đoàn, nghi ngờ các quan chức Vũ Hán “cố gắng che giấu thông tin” vì khi được hỏi về khả năng lây nhiễm của căn bệnh lạ, câu trả lời luôn không rõ ràng.

Cuối cùng, một quan chức thừa nhận phát hiện trường hợp nghi vấn: hai vợ chồng trong một gia đình đều mắc bệnh viêm phổi lạ dù người vợ hoàn toàn không đến chợ hải sản. “Chúng tôi gần như chắc chắn người chồng đã lây bệnh cho vợ”, Chuang nói. Đó là thông tin thay đổi cục diện.

Vào ngày các chuyên gia rời đi, Vũ Hán ra tuyên bố thừa nhận “có thể xuất hiện lây nhiễm hạn chế từ người sang người”, nhưng không ghi nhận lây lan mạnh trong cộng đồng.

CDC Đài Loan cho biết họ đã chia sẻ “thông tin tóm tắt” về chuyến thăm với “các quốc gia có cùng chí hướng” nhưng từ chối tiết lộ cụ thể. Ngay sau khi phái đoàn trở về, Đài Loan kích hoạt Trung tâm Chỉ huy Dịch bệnh để đối phó dịch, ba ngày trước khi Vũ Hán bị phong tỏa hôm 23/1. 

Đài Loan đã hết sức cảnh giác, ông La nói. “Điều đó giúp chúng tôi bảo vệ người dân trước làn sóng dịch bệnh đầu tiên, nếu không, chúng tôi có thể lâm vào tình cảnh giống Italy hay Hàn Quốc”, ông nói.

Trớ trêu thay, việc bị loại khỏi WHO có thể là “trong cái rủi lại có cái may” với Đài Loan, theo ông La. 

Đài Loan từng tham gia Đại hội đồng Y tế Thế giới (WHA), diễn đàn ra quyết sách của WHO, với tư cách quan sát viên từ năm 2009, khi quan hệ giữa Bắc Kinh và Đài Bắc còn nồng ấm. Tuy nhiên, Trung Quốc gây sức ép tước tư cách quan sát viên WHA của Đài Loan sau khi bà Thái Anh Văn, người phản đối chính sách “Một Trung Quốc”, trở thành lãnh đạo hòn đảo từ năm 2016. Đài Loan và Mỹ đã cố gắng vận động để hòn đảo có thể dự hội nghị WHA tuần này nhưng không thành công.

WHO cho biết họ đang tiếp tục tạo điều kiện cho các chuyên gia của mình tương tác với Đài Loan, bao gồm cho phép chuyên gia y tế Đài Loan tham gia vào hai mạng lưới chống Covid-19 của WHO được thành lập vào tháng một và tổ chức các cuộc họp qua điện thoại giữa WHO và cơ quan y tế tại Đài Bắc.

Vì không có tư cách thành viên, Đài Loan luôn giữ tâm thế rằng “chúng ta hẳn đã bỏ lỡ thông tin quan trọng”. “Điều đó khiến chúng tôi cảm thấy nên bảo vệ bản thân tốt hơn bằng cách tìm kiếm thông tin trên tất cả nền tảng, không chỉ dựa vào thiện chí của WHO hay các bên khác”, ông La nói.

Tuy nhiên, La Nhất Quân vẫn nhấn mạnh tầm quan trọng của WHO. “Chúng tôi vẫn cần WHO”, ông nói. “Và chúng tôi cần WHO mạnh mẽ hơn”.

Phương Vũ (Theo Time) – Vnexpress

Thế giới

Vì sao thế giới cũng sục sôi vì biểu tình ở Mỹ?

Đã đăng

 ngày

Bởi

Biểu tình ở Mỹ làm dấy lên giận dữ về tình trạng phân biệt đối xử và phân cực chính trị, thúc đẩy người dân nhiều nước xuống đường.

Giữa lúc các cuộc biểu tình chống lại sự bạo lực của cảnh sát và nạn phân biệt chủng tộc làm rung chuyển hàng chục thành phố Mỹ, Ngoại trưởng Anh Dominic Raab nói về cuộc khủng hoảng này với giọng điệu thường được dùng khi đề cập tới những xung đột nan giải trên thế giới.

“Chúng tôi muốn thấy tất cả vấn đề căng thẳng đó xuống thang và người Mỹ đoàn kết lại”, ông phát biểu hôm 31/5.

Ngoại trưởng Anh không phải người duy nhất thể hiện thái độ như vậy. Một phát ngôn viên của Ủy ban châu Âu cũng gửi thông cáo bất thường về tình hình ở Mỹ cho báo giới, bày tỏ hy vọng “tất cả vấn đề” liên quan đến các cuộc biểu tình “sẽ được giải quyết một cách nhanh chóng và hoàn toàn tôn trọng thượng tôn pháp luật, cũng như nhân quyền”.

Đám đông tuần hành trong cuộc biểu tình vì quyền lợi của người da màu tại Sydney, Australia hôm 2/6. Ảnh: AAP.
Đám đông tuần hành trong cuộc biểu tình vì quyền lợi của người da màu tại Sydney, Australia hôm 2/6. Ảnh: AAP.

Theo bình luận viên Ishaan Tharoor của Washington Post, tình trạng bất ổn ở Mỹ thu hút sự chú ý toàn cầu vì cả những lý do cũ và mới. Đối với một số người dân trên thế giới thỉnh thoảng mới tìm hiểu về nội bộ nước Mỹ, diễn biến kịch tính tại siêu cường số một khá mới mẻ và khơi gợi sự tò mò.

Tuy nhiên, sự việc còn được nhiều người theo dõi bởi phong trào chống bạo lực chủng tộc, cũng như phân biệt đối xử với các nhóm thiểu số, vốn tồn tại lâu nay.

Những video lan truyền trên mạng xã hội khắp thế giới, quay cảnh người đàn ông da màu George Floyd bị cảnh sát da trắng ghì chết cùng các cuộc biểu tình sau đó, như “đổ dầu” vào lửa thịnh nộ, thúc đẩy người dân tại nhiều nước một lần nữa đứng lên đấu tranh vì những vấn đề quen thuộc.

Tại Australia, nơi các cuộc biểu tình diễn ra trong tuần này, biến động ở Mỹ đã làm sống dậy sự tức giận trước những hành động chống lại cộng đồng người bản địa của cảnh sát, cũng như ký ức về sự cố năm 2015, khi David Dungay Jr., thổ dân 26 tuổi, chết trong lúc bị cảnh sát Australia giam.

“Chúng tôi phẫn nộ vì sự việc đang xảy ra ở Minneapolis, nhưng những người tại Australia cũng cần cùng nhau đứng lên, bởi họ thực sự có thể nhìn thấy tình trạng phân biệt chủng tộc và bất công với người dân chúng tôi”, Paul Francis-Silva, cháu trai của Dungay, trả lời phỏng vấn ABC News.

Tình huống tương tự diễn ra tại Pháp, khi vụ George Floyd gợi lại ký ức về một sự cố năm 2016. Adama Traore, thanh niên 24 tuổi người da màu sống tại vùng ngoại ô Paris, chết ngạt sau khi bị cảnh sát giam. Cái chết của Traore châm ngòi cho phong trào “Mạng sống người da màu cũng quan trọng” tại Pháp khi đó.

Hàng nghìn người tại Paris hôm qua quỳ gối và giơ nắm đấm trên đường phố nhằm bày tỏ sự tôn trọng với Floyd và Traore. Cuộc biều tình hầu như ôn hòa, nhưng đụng độ vẫn lác đác, khiến cảnh sát chống bạo động phải dùng hơi cay giải tán đám đông. Lính cứu hỏa cũng nỗ lực dập tắt nhiều đám cháy trên đường.

“Làm sao có thể không nhớ về nỗi đau khủng khiếp mà Adama từng chịu đựng khi bị ba cảnh sát khống chế, rồi liên tục kêu lên ‘Tôi không thể thở’”, một nhóm ủng hộ Traore viết trên Facebook tuần trước. “Tên của anh ấy là George Floyd. Cũng giống như Adama, anh ấy chết chỉ vì là người da màu”.

Cảm giác bức xúc và sự đoàn kết cũng khơi dậy các cuộc biểu tình tại Toronto, Berlin, London và nhiều thành phố phương Tây khác. “Người dân khắp thế giới hiểu rằng cuộc đấu tranh của riêng họ vì nhân quyền, bình đẳng và công bằng, sẽ khó thắng hơn rất nhiều nếu Mỹ không còn là nơi có thể biến giấc mơ thành hiện thực”, Wolfgang Ischinger, cựu đại sứ Đức tại Washington, giải thích.

“Hãy hy vọng các cuộc biểu tình toàn cầu sẽ giúp Washington nhớ lại rằng quyền lực mềm của họ là một tài sản độc nhất, khiến Mỹ khác biệt so với những cường quốc khác như Trung Quốc, Nga, thậm chí cả châu Âu. Bi kịch sẽ xảy ra nếu chính quyền Trump rời bỏ vị trí lãnh đạo tinh thần của Mỹ, thay vì tận dụng cơ hội lớn này”, ông nói thêm.

Cảnh sát bắn hơi cay vào một cuộc biểu tình trái phép trước tòa án ở Paris, Pháp, hôm 2/6. Ảnh: Reuters.
Cảnh sát bắn hơi cay vào một cuộc biểu tình trái phép trước tòa án ở Paris, Pháp, hôm 2/6. Ảnh: Reuters.

Phản ứng toàn cầu còn được cho là xuất phát từ mâu thuẫn lâu nay giữa phe cánh tả và sự áp đặt quyền lực của Mỹ. Tâm lý này ngày càng gia tăng do sự ác cảm rộng rãi với Trump.

“Một phần của phản ứng là do chủ nghĩa bài Mỹ, một phần khác bởi tình trạng bất công trắng trợn”, Marcel Dirsus, chuyên gia tại Viện Chính sách An ninh thuộc Đại học Kiel, Đức, đề cập tới các cuộc biểu tình tại Berlin.

“Họ biểu tình cũng vì Trump, người mà công chúng Đức không hề ưa, đến mức nhiều người ghét lây cả Mỹ. Tôi nghĩ nhiều người từng cho rằng Mỹ đã chạm đáy trong những năm qua, nhưng sau đó Trump đã chứng minh họ sai với cách xử lý Covid-19 và làn sóng biểu tình”, Dirsus nhận định.

Theo bình luận viên Tharoor, thực tế là chủ nghĩa dân tộc cực đoan của Trump càng thúc đẩy chia rẽ vốn đang gia tăng tại các quốc gia khác. “Tổng thống Mỹ rõ ràng có chung động cơ với phong trào cánh hữu ở châu Âu. Sự căm ghét nước Mỹ dưới thời Trump cũng có thể trở thành động lực cho những bất bình trong nước”, Tharoor nói.

“Chủ nghĩa Trump là một phần quan trọng dẫn đến phong trào xuyên quốc gia rộng lớn hơn. Sự phân cực chính trị tại Mỹ hiện nay tương tự tình hình chính trị ở những nơi khác”, nhà khoa học chính trị Daniel Nexon tại Đại học Georgetown cho hay.

Mặc dù vậy, các cuộc biểu tình trên thế giới cũng có thể chứng minh sự ngưỡng mộ lâu bền với nước Mỹ. “Những cuộc tuần hành dường như thể hiện lý tưởng về một nước Mỹ tốt đẹp vẫn có sức hấp dẫn tại châu Âu như thế nào”, nhà báo người Anh Ben Judah nhận xét.

Ánh Ngọc (Theo Washington Post) – Vnexpress

Đọc tiếp

Thế giới

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ phản đối dùng quân đội dẹp biểu tình

Đã đăng

 ngày

Bởi

Mark Esper phản đối việc kích hoạt Đạo luật Chống Nổi loạn để triển khai quân đội dập tắt biểu tình trên toàn quốc.

Esper nói rằng phương án triển khai quân đội cho vai trò hành pháp chỉ nên được sử dụng “trong trường hợp khẩn cấp và nghiêm trọng nhất”. “Chúng ta không ở trong tình huống như vậy. Tôi không ủng hộ kích hoạt Đạo luật Chống Nổi loạn”, Bộ trưởng Quốc phòng cho hay trong cuộc họp báo ở thủ đô Washington ngày 3/6.

Mark Esper (đeo cà vạt) trò chuyện với Vệ binh Quốc gia tại thủ đô Washington ngày 1/6. Ảnh: Reuters.
Mark Esper (đeo cà vạt) trò chuyện với Vệ binh Quốc gia tại thủ đô Washington ngày 1/6. Ảnh: Reuters.

Để triển khai quân đội trên đất Mỹ cho các mục đích hành pháp, Trump cần kích hoạt Đạo luật Chống nổi loạn năm 1807, lần gần đây nhất được sử dụng năm 1992 để phản ứng trước bạo loạn ở Los Angeles.

Trump tuần này nói rằng ông có thể sử dụng quân đội để dập tắt biểu tình bạo lực ở các thành phố Mỹ nhưng chưa kích hoạt đạo luật. Quân đội đã bố trí sẵn 1.600 quân nhân ở bên ngoài thủ đô Washington nhằm triển khai nếu cần.

Trong cuộc họp báo, Esper kịch liệt chỉ trích hành động của cảnh sát thành phố Minneapolis. Người đàn ông da màu George Floyd đã chết hôm 25/5 sau khi bị một cảnh sát da trắng ghì gáy trong vài phút. Esper gọi hành động này là “giết người” và “tội ác khủng khiếp”.

Biển tình đòi công lý cho Floyd diễn ra ở ít nhất 140 thành phố Mỹ, một số phần tử quá khích đã lợi dụng biểu tình để cướp bóc, đập phá các cửa hàng, đốt xe và các tòa nhà. Ít nhất 40 thành phố của Mỹ áp lệnh giới nghiêm để đối phó với các vụ bạo động. Hơn 20.000 lính Vệ binh Quốc gia được triển khai để hỗ trợ các cơ quan thực thi pháp luật ở Washington D.C. và 28 bang.

Phương Vũ (Theo Reuters) – Vnexpress

Đọc tiếp

Thế giới

Lý do biểu tình Mỹ biến thành bạo lực

Đã đăng

 ngày

Bởi

Tâm lý kích động và quan điểm của người biểu tình rằng bạo lực là chính đáng, phù hợp với hoàn cảnh đã góp phần đẩy căng thẳng lên đến đỉnh điểm.

Lệnh giới nghiêm đã được ban bố trên hàng loạt thành phố Mỹ do biểu tình và hỗn loạn đang lan rộng sau khi George Floyd, một người da màu ở thành phố Minneapolis, bang Minnesota, tuần trước bị cảnh sát ghì cổ đến chết.

Một số cuộc biểu tình bắt đầu trong ôn hòa nhưng sau đó biến thành bạo lực. Người biểu tình đụng độ với cảnh sát, đốt phá, cướp bóc các cửa hàng, phương tiện, buộc chính quyền các bang phải huy động Vệ binh Quốc gia Mỹ để đối phó.

Xe cảnh sát bị đốt trong cuộc biều tỉnh ở Atlanta, Georgia, ngày 29/5. Ảnh: Reuters.
Xe cảnh sát bị đốt trong cuộc biều tỉnh ở Atlanta, Georgia, ngày 29/5. Ảnh: Reuters.

“Những sự việc như cái chết của Floyd có thể trở thành ngòi nổ bởi đối với nhiều người, nó là hình ảnh biểu trưng cho mối quan hệ giữa cảnh sát và cộng đồng da màu”, giáo sư Clifford Stott, chuyên gia về hành vi đám đông và chính sách trật tự công cộng tại Đại học Keele, Anh, nhận định. Các tình huống đối đầu sẽ có nhiều khả năng nảy sinh ở những nơi tồn tại bất bình đẳng trong cấu trúc xã hội, ông nhấn mạnh.

Năm 2011, bạo loạn cũng nổ ra tại Anh sau khi một người đàn ông bị cảnh sát bắn chết. Những người phản đối ban đầu tổ chức biểu tình ôn hòa, nhưng căng thẳng liên tục leo tháng, cuối cùng biến thành 4 ngày hỗn loạn với vô số cửa hàng bị cướp phá.

Stott nhận thấy bạo loạn lan rộng ở Anh hồi năm 2011 bởi người biểu tình tại những thành phố khác nhau đã tập hợp lại vì tìm thấy điểm chung là sắc tộc và cùng chia sẻ sự căm ghét với cảnh sát. Khi cảnh sát xuất hiện dấu hiệu lạm quyền, những thành phần gây bạo loạn cảm thấy họ có nghĩa vụ, trách nhiệm phải hành động.

Biểu tình bạo lực ít khi xảy ra nếu cảnh sát có mối quan hệ tốt đẹp với cộng đồng địa phương, nhưng cách họ phản ứng với người biểu tình cũng rất quan trọng, chuyên gia đánh giá.

“Bạo loạn là sản phẩm của sự tương tác, đa phần bắt nguồn từ cách cảnh sát đối xử với đám đông”, giáo sư Stott nói. Trong đám đông biểu tình lớn, căng thẳng sẽ bắt đầu leo thang khi một nhóm nhỏ đụng độ với cảnh sát. Tuy nhiên, cảnh sát thường phản ứng với toàn bộ đám đông. Nếu người biểu tình cảm thấy cảnh sát đang sử dụng vũ lực không chính đáng, điều này sẽ làm gia tăng tâm lý “chúng ta đối đầu với họ”.

“Cảm nhận của mọi người về bạo lực và đối đầu có thể vì thế mà thay đổi, chẳng hạn, họ sẽ bắt đầu cảm thấy rằng bạo lực là chính đáng trong hoàn cảnh đó”, Stott cho biết thêm.

10 ngày Mỹ trượt sâu vào biểu tình, bạo động
   

Darnell Hunt, trưởng khoa khoa học xã hội Đại học California, tin rằng cảnh sát Mỹ đã “gia tăng những hành động quyết liệt” vào cuối tuần qua, trước làn sóng biểu tình.

“Huy động Vệ binh Quốc gia, sử dụng đạn cao su, hơi cay, bom khói, những chiến thuật này của cảnh sát đều có thể làm trầm trọng thêm một tình huống vốn đã căng thẳng”, Hunt cho hay.

Tâm lý đạo đức cũng có thể giúp lý giải các cuộc biểu tình hóa bạo lực, theo Marloon Moojiman, phó giáo sư về hành vi có tổ chức tại Đại học Rice. Ý thức đạo đức của một người là yếu tố trung tâm hình thành nên cách nhìn nhận của họ đối với bản thân, vì thế “khi chúng ta nhìn thấy điều gì đó vô đạo đức, nó sẽ tạo ra những cảm giác mãnh liệt, bởi chúng ta cảm thấy nhận thức về đạo đức của mình cần được bảo vệ”.

“Cảm nhận này có thể lấn át những suy nghĩ về việc phải giữ mọi việc trong khuôn khổ” bởi “khi bạn nghĩ toàn bộ hệ thống đã bị phá vỡ, bạn sẽ thực sự muốn làm điều gì đó quyết liệt để cho thấy đó là điều không thể chấp nhận được”, Moojiman cho biết.

Nghiên cứu cho thấy mạng xã hội cũng có khả năng khiến mọi người dễ chấp nhận bạo lực hơn nếu họ nhìn thấy hành vi bạo lực xuất hiện ở những người cùng quan điểm đạo đức với mình.

Tại Mỹ, hàng trăm cơ sở kinh doanh đã bị người biểu tình đập phá, cướp bóc. Theo giáo sư Stott, mọi người thường cho rằng những hành vi này bắt nguồn từ sự hỗn loạn và suy nghĩ chưa thấu đáo của đám đông biểu tình. Nhưng thực tế, đây là hành vi hoàn có chủ đích, bắt nguồn từ yếu tố tâm lý.

“Về mặt nào đó, cướp bóc là một cách thể hiện quyền lực, những người da màu có thể cảm thấy họ bị lép vế trong mối quan hệ với cảnh sát, nhưng trong bối cảnh một cuộc bạo loạn, những kẻ gây bạo loạn lại trở nên mạnh mẽ hơn cảnh sát”, Stott nói.

Các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng những địa điểm bị cướp phá thường liên quan tới các doanh nghiệp lớn và hành động cướp phá “thường liên quan đến cảm giác về sự bất bình đẳng trong xã hội tư bản”, ông cho biết thêm.

Tuy nhiên, cả giáo sư Stott và giáo sư Hunt đều lưu ý rằng căn nguyên của hành vi cướp bóc, hôi của trong biểu tình, bạo loạn rất phức tạp. Đôi khi, có những người cướp đồ chỉ để thỏa mãn lòng tham cá nhân hay là thành viên của các tổ chức tội phạm.

Theo các chuyên gia về trật tự công cộng, cách tốt nhất để ngăn chặn bạo lực là cảnh sát phải cho thấy họ hành động đúng luật và nỗ lực thuyết phục người biểu tình đối thoại.

Giáo sư Lawrence Ho, chuyên gia về chính sách và quản lý trật tự công cộng tại Đại học Giáo dục Hong Kong, thừa nhận đàm phàn là chìa khóa giúp ngăn chặn bạo lực, nhưng khó khăn nằm ở chỗ rất nhiều cuộc biểu tình không có người dẫn dắt. “Nếu bạn không thể tìm thấy người đứng đầu, bạn không thể đàm phán với họ”, ông nói.

Nhìn chung, các chính trị gia có thể khiến tình hình tốt hơn hay tệ hơn phụ thuộc vào lựa chọn đối đầu hay đối thoại của họ. Tuy nhiên, sau cùng, các cuộc bạo loạn có thể là biểu hiện của những mối căng thẳng sâu rộng và những vấn đề phức tạp vốn không có giải pháp dễ dàng.

Giáo sư Hunt cho rằng phong trào biểu tình đang diễn ra ở Mỹ là nghiêm trọng nhất từ năm 1968 đến nay, sau khi Martin Luther King bị ám sát.

“Sự việc của George Floyd không phải nguyên nhân, nó giống như giọt nước làm tràn ly hơn. Ta có thể nói rằng hành vi giết hại dân thường của cảnh sát là triệu chứng còn nguyên nhân sâu xa nằm ở tư tưởng da trắng thượng đẳng, nạn phân biệt chủng tộc cùng những vấn đề khác mà Mỹ chưa thể xử lý một cách căn cơ”, ông bình luận.

Vũ Hoàng (Theo BBC) – Vnexpress

Đọc tiếp
Advertisement

Facebook

Advertisement

Tin Nổi bật