Kết nối với chúng tôi:

Công nghệ

Google khiến con người phụ thuộc vào công cụ tìm kiếm

Đã đăng

 ngày

 
Con người đang dần bị phụ thuộc vào các công cụ tìm kiếm trực tuyến để nhận thức về thế giới thay vì tự đào sâu tìm hiểu như trước đây.

“Suốt nhiều năm qua, tôi có cảm giác khó chịu rằng có một ai đó, một thứ gì đó đang mày mò trong tâm trí mình, lập trình lại hệ thống nơ ron và bộ nhớ. Tâm trí tôi đang thay đổi. Tôi không còn lối tư duy như trước đây”, Nicholas Carr viết.  Cây bút của nhiều tờ báo lớn, như The New York Times, The Wall Street Journal, Wired… kiêm tác giả của nhiều cuốn sách về công nghệ, cho biết, ông cảm nhận rõ sự thay đổi này thông qua khả năng đọc của bản thân.

Trước đây, Nicholas thích đắm chím trong những cuốn sách, bài báo. Ông dễ bị cuốn vào những câu chuyện hay cuộc tranh luận sôi nổi, sẵn sàng dành hàng giờ để nghiền ngẫm chúng. Nhưng hiện tại thì trái ngược hoàn toàn. Tâm trí Nicholas Carr giờ dễ bị phân tán chỉ sau vài ba trang viết. Ông chật vật để kéo não mình trở lại những dòng văn bản thay vì thơ thẩn đi tìm việc gì khác để làm. Việc đọc sâu giờ chẳng khác nào cực hình.

Nicholas không phải trường hợp duy nhất. Bruce Friedman, blogger chuyên viết về việc sử dụng máy tính trong ngành dược, cho biết, anh giờ không thể đọc những bài viết dài trên web hay báo in. Thậm chí, những bài viết chỉ dài ba đến bốn khổ cũng bị coi là “kho dung nạp”. Thay vì nghiền ngẫm ngôn từ, Bruce đọc lướt để lấy thông tin.

Scott Karp, một blogger chuyên viết về phương tiện truyền thông trực tuyến, cũng gặp vấn đề tương tự. Từng là “con nghiện” sách từ hồi đại học nhưng đến giờ, Scott không còn giữ được thói quen đắm mình vào những con chữ nữa. “Chuyện gì đã xảy ra vậy. Liệu việc tôi không còn đọc nhiều khi đang lướt web vì thói quen đọc đã bị thay đổi, hay vì cách tư duy của tôi đã thay đổi?”, blogger đặt vấn đề.

Con người đang phụ thuộc vào các công cụ tìm kiếm trực tuyến. Ảnh: Itsvicky.
Con người đang phụ thuộc vào các công cụ tìm kiếm trực tuyến. Ảnh: Itsvicky.

Theo Nicholas, tất cả là tại Internet. Suốt hơn một thập kỷ qua, ông dành quá nhiều thời gian để lên mạng, tìm kiếm, lướt web và đóng góp nội dung vào các cơ sở dữ liệu. Thay vì bỏ hàng giờ trong thư viện, giờ chỉ cần vài cú click chuột, người dùng sẽ có được những thông tin mình muốn đeo bám. Ngay cả khi không làm việc, họ cũng không thể rời bỏ cõi mạng. Đối với Nicholas cũng như những người dùng nói chung, Internet giống như một “ống dẫn” giúp cho mọi thông tin được chảy vào trí não thông qua tai và mắt. Có quá nhiều việc để làm với chiếc máy tính hay các thiết bị di động, từ viết email, đọc tít báo, các bài viết, xem video, nghe radio trực tuyến cho đến bấm hết từ link này qua link khác.

Nhưng cái gì cũng đều có mặt thuận lợi và hạn chế. Theo quan điểm được đưa ra từ những năm 1960 của nhà lý luận truyền thông Marshall McLuhan, truyền thông không chỉ là những kênh thông tin thụ động. Chúng không những cung cấp “nguyên liệu” làm nên suy nghĩ cho con người mà còn định hình quá trình tư duy. Đối với Nicholas, Internet đang buộc ông phải đánh đổi khả năng tập trung và suy ngẫm để lấy thông tin với độ phủ rộng cùng tốc độ nhanh. “Ngày trước tôi như một thợ lặn trong biển chữ. Giờ thì tôi chỉ giống như một gã lướt mô-tô nước trên khắp mặt nước ấy”.

Một nghiên cứu về thói quen tìm kiếm trên mạng kéo dài 5 năm, được thực hiện bởi các học giả của trường University College of London, cho rằng con người đang có nhiều thay đổi về cách đọc và tư duy. Kết luận này được đưa ra sau khi các chuyên gia theo dõi hành vi của những người truy cập vào hai trang tìm kiếm của Thư viện Anh và một tập đoàn giáo dục nước này. Hai trang tìm kiếm được theo dõi cho phép người dùng truy cập vào các bài báo, sách điện tử và nhiều nguồn thông tin dạng văn bản khác. Lý do họ chọn hai trang tìm kiếm này là bởi chúng ngăn hành vi đọc lướt của người dùng, gần như không cho phép họ quay lại các trang từng truy cập nếu đã nhỡ bấm sang nguồn thông tin tham khảo khác.

Tuy vậy, kết quả nghiên cứu cho thấy dù bị giới hạn hành vi đọc lướt, người dùng hai trang tìm kiếm này vẫn chỉ đọc từ một đến hai trang cuốn sách hoặc bài báo trước khi điều hướng sang nguồn tham khảo khác. Đối với những bài viết dài, họ cũng chỉ thực hiện thêm thao tác “lưu lại” nhưng không có động thái gì đảm bảo sẽ quay lại đọc nốt những gì còn đang dang dở. “Rõ ràng rằng người dùng không đọc thông tin như cách truyền thống khi họ lên mạng. Có một xu hướng đọc mới nổi lên là lướt qua các đề mục, trang nội dung và tóm tắt nhằm nắm thu được thông tin nhanh nhất”, báo cáo viết.

Maryanne Wolf, nhà tâm lý học phát triển tại Đại học Tufts (Mỹ) kiêm tác giả cuốn sách Proust and the Squid: The Story and Science of the Reading Brain (Proust và con mực: Câu chuyện và Khoa học về Bộ não biết đọc), cho rằng con người định nghĩa về bản thân qua cách thức đọc của chính họ. Bà lo ngại xu hướng đọc tập trung vào tính hiệu quả và tức thời nổi lên từ Internet sẽ khiến khả năng nghiền ngẫm của con người, vốn được trui rèn từ thời kỳ công nghệ in ấn thống trị trước đây, bị sẽ suy yếu. Theo chuyên gia, đọc thông tin online chỉ giống như việc “giải mã thông tin đơn thuần”. Khi ấy, khả năng lý giải ngôn từ, tạo ra mối liên hệ về tinh thần phú không xuất hiện như khi con người đọc thông tin sâu và tập trung.

Maryanne Wolf cho biết, đọc không phải kỹ năng thuộc về bản năng của con người. Nó không được quy định trong gen giống như ngôn ngữ. Để đọc được, con người phải dạy cho trí não cách dịch các ký tự biểu tượng mình thấy thành thứ ngôn ngữ họ có thể hiểu được. Các công nghệ và phương tiện truyền thông được sử dụng để học tập và rèn luyện cách đọc đóng vai trò quan trọng trong việc định hình mạng lưới nơ ron bên trong bộ não. Các thí nghiệm đã chứng minh rằng người đọc được chữ tượng hình, ví dụ: Trung Quốc, có mạng lưới dây thần kinh để đọc rất khác so với nhóm sử dụng ngôn ngữ viết là chữ Latin. Sự khác nhau ấy được thể hiện trên nhiều phần của bộ não, trong đó có cả những vùng quy định các chức năng thiết yếu như trí nhớ và lý giải các kích thích thị, thính giác. Do đó, việc những người sử dụng Internet để đọc thông tin có mạng lưới thần kinh khác với nhóm đọc sách hoặc các tác phẩm in ấn khác là hoàn toàn có thể.

Nhiều người cho rằng bộ não với khoảng 100 tỷ nơ ron sẽ không thay đổi khi con người đạt đến tuổi trưởng thành. Tuy vậy, các nhà nghiên cứu đã chứng minh điều này không đúng. James Old, giáo sư chuyên nghiên cứu về khoa học tâm thần tại Đại học George Maison (Mỹ), cho biết não người rất “mềm dẻo”. Các tế bào thần kinh thường xuyên phá vỡ kết nối cũ và thành lập các kết nối mới. Theo ông, bộ não có khả năng tự lập trình lại bản thân trong suốt thời gian hoạt động và có thể thay đổi cách thức vận hành một cách linh hoạt.

Internet và tham vọng của Google

Ngày nay, Internet có tác động sâu rộng đến cuộc sống của con người. Nó đứng sau hầu hết các công nghệ trí tuệ khác, từ bản đồ, đồng hồ, báo chí in ấn, máy đánh chữ, máy tính đến điện thoại, radio hay TV. Thậm chí, Internet còn hấp thụ các loại phương tiện truyền thông khác, “bơm” vào chúng những đường link, quảng cáo hay các loại thông tin kỹ thuật số khác nhằm sản sinh ra một hình thái mới hấp dẫn sự chú ý của người dùng. Nó giờ trở thành một cỗ máy xử lý và truyền tải thông tin một cách tự động, hiệu quả nhờ sự trợ giúp của các lập trình viên nhằm tìm ra thuật toán hoàn hảo nhất để vận hành.

Trụ sở của Google ở Mountain View, California (Mỹ), được coi là “thánh đường” của Internet. Eric Schmidt, Giám đốc điều hành của hãng, cho biết Google được thành lập dựa trên nền tảng khoa học về đo lường và họ đang hệ thống hoá mọi thứ mình làm. Bằng việc thu thập hàng terabyte dữ liệu về hành vi của người dùng thông qua công cụ tìm kiếm và các website khác của mình, “người khổng lồ” đã sử dụng những gì có được để cải thiện thuật toán kiểm soát các thông tin được tìm kiếm và tìm ra lời giải thích cho những hoạt động tra cứu này. Theo góc nhìn của Google, thông tin là một loại hàng hoá, tài nguyên có thể khai thác và xử lý hiệu quả nhằm đạt được tính hiệu quả mang tính công nghiệp, tức là vốn bỏ ra ít nhất có thể nhưng vẫn đạt lợi nhuận cao.

Cách đây vài năm, Larry Page, nhà đồng sáng lập của Google, từng nói: “Công cụ tìm kiếm là một thứ gì đó thông minh như con người, thậm chí còn thông minh hơn. Đối với chúng tôi, việc nghiên cứu công nghệ tìm kiếm là cách để phát triển trí tuệ nhân tạo”. Năm ngoái, ông tuyên bố trong một hội thảo khoa học rằng Google đang sẵn sang để xây dựng trí tuệ nhân tạo và áp dụng nó đại trà.

Câu hỏi đặt ra là vì sao những người đứng đầu Google lại muốn dẫn đầu trong cuộc chạy đua về trí tuệ nhân tạo?

Theo Nicholas, trong thế giới của Google, con người giống một cỗ máy tính đã hết thời, cần đến một bộ xử lý nhanh hơn và ổ cứng dung lượng lớn hơn. Nhờ đó, con người có thể “đạt hiệu suất cao hơn” khi bước vào thế giới Internet. Họ có thể duyệt nhiều trang web, bấm vào nhiều đường link, đọc nhiều thông tin trên mạng hơn… đồng nghĩa với việc Google cùng các công ty công nghệ khác có thêm nhiều cơ hội để thu thập thông tin người dùng, đưa ra các quảng cáo phù hợp với nhu cầu và cuối cùng là kiếm lời hơn từ đó. Điều những hãng công nghệ này ít mong muốn nhất chính là người dùng đọc thông tin một cách chậm rãi và tập trung – hành vi ảnh hưởng rất lớn đến lợi nhuận của họ.

Việc đọc và nghiền ngẫm ngôn từ không chỉ mang giá trị về tri thức mà còn đem lại những rung động về mặt trí tuệ. Chúng đem lại những khoảng lặng để tâm trí con người có thể chiêm nghiệm, đúc rút ra những kết luận cho riêng mình. Nếu những khoảng lặng này bị đánh mất, hoặc bị lấp đầy bởi các nội dung gây phân tán khác, con người dễ đánh mất một thứ quan trọng đối với bản thân lẫn văn hoá của chính mình.

Trong một bài tiểu luận gần đây, nhà viết kịch Richard Foreman nói rằng con người ngày nay đang chịu áp lực về việc bị quá tải thông tin và những công nghệ nhằm đáp ứng nhu cầu ngay lập tức. Nhân loại dễ có nguy cơ trở nên nông cạn khi chỉ ngày ngày chỉ lướt trên bề mặt mạng lưới thông tin khổng lồ chứ không “lặn ngụp” để tìm hiểu sâu như họ từng làm. Và khi con người phải dựa dẫm vào máy tính như một công cụ trung gian để nhận thức về thế giới, theo Nicholas, chúng ta đã hạ thấp trí tuệ giống loài ngang với trí thông minh nhân tạo.

Yến Oanh (theo The Atlantic) – Vnexpress

Công nghệ

Dấu hiệu cho thấy AI ngày càng giống con người

Đã đăng

 ngày

Bởi

“Đó là lúc 9h17 sáng và không khí ngôi nhà rất nặng nề” là câu mở đầu tiểu thuyết “1 the Road

1 the Road ra đời năm 2018. Điểm đặc biệt là tác phẩm không có tác giả, ít nhất là theo định nghĩa truyền thống.

Những câu văn xuôi được kết hợp bởi mạng lưới thần kinh với trí nhớ ngắn hạn, sử dụng dữ liệu từ camera giám sát và hàng loạt cảm biến gắn trên một xe tải di chuyển từ thành phố New York đến New Orleans. Kết quả là “phiên bản AI” cho cuốn tiểu thuyết On the Road của Jack Kerouac ra đời.

Thể hiện sức sáng tạo tương đương con người là một thách thức lớn đối với AI, nhưng hàng loạt tiến bộ đang xuất hiện trong thời gian qua.

1 the Road là một trong các ví dụ cho thấy AI có thể được dùng cho mục đích sáng tạo. Những người làm công việc chân tay từ lâu đã hiểu rằng quy trình tự động hóa sẽ đe dọa sinh kế của họ, trong khi giới nhạc sĩ, họa sĩ và nhà văn luôn tin máy móc không thể tái hiện tác phẩm của họ. Tuy nhiên, niềm tin này dường như đang lung lay.

AI luôn xuất hiện trong danh sách 10 xu thế công nghệ chiến lược hàng đầu của Gartner từ năm 2015. Công nghệ trí tuệ nhân tạo và ảnh hưởng của nó với thế giới từ lâu đã được coi trọng, nhưng khó có thể sàng lọc thông tin thực sự giữa những kỳ vọng được cường điệu hóa. Khoa học viễn tưởng vẽ nên nhiều hình ảnh của AI, từ những robot giúp việc nhân từ cho đến các siêu máy tính hủy diệt thế giới. Rõ ràng, công nghệ hiện nay chưa đạt tới mức đó.

Tuy nhiên, AI cũng không phải công nghệ tương lai, nó đã hiện diện trong cuộc sống hiện tại. Khi khách hàng gặp vấn đề với sản phẩm hoặc dịch vụ, họ có thể tìm đến website của doanh nghiệp và trò chuyện online để giải quyết tình hình. Cuộc đối thoại có thể diễn ra giữa khách hàng với trợ lý ảo. Chúng mang hình ảnh thân thiện và cách phản ứng giống con người, dù chỉ là những dòng code lập trình.

Trong lĩnh vực sản xuất, các tập đoàn như BMW, Airbus và LG đang dùng AI để tăng hiệu quả, an toàn và độ tin cậy trong nhà máy. Ở quy mô gia đình, AI có thể giúp máy hút bụi xác định kích thước phòng và những chướng ngại vật, từ đó xác định đường lau dọn hiệu quả nhất và tự hoạt động mà không cần tác động từ con người.

Đây đều là những thành tựu ấn tượng, gần như không thể tưởng tượng chỉ cách đây vài chục năm. Tuy nhiên, vẫn có tranh luận cho rằng chúng chưa trở thành AI thực sự khi chỉ vận hành theo các thông số có sẵn, không thể hoạt động khi xuất hiện yếu tố bất thường ngoài thiết kế.

“Trí tuệ nhân tạo tổng thể” (AGI) thường dùng để chỉ những cỗ máy có thể áp dụng kiến thức và kỹ năng trong nhiều tình huống khác nhau, tức là có thể tự học và giải quyết vấn đề như con người.

“Nhiều loại AI hiện nay được xếp vào nhóm ‘AI hẹp’, chỉ hoạt động theo những quy chuẩn rõ ràng. Tuy nhiên, đang có nhiều dự án nghiên cứu máy móc đa năng. Công ty DeepMind đang phát triển một phiên bản của chương trình cờ vua AlphaZero nhằm ứng dụng vào nghiên cứu y khoa, cụ thể là quá trình cuộn gập protein”, tác giả Arthur Miller nhận xét.

Xe tự lái, trợ lý cá nhân ảo như Alexa và cả những bộ lọc spam tự động cũng được coi là AI hẹp. Dù công nghệ đang phát triển rất nhanh, vẫn chỉ có rất ít ứng dụng có thể coi là AGI.

Sức sáng tạo là một trong những trở ngại lớn nhất để ứng dụng có thể coi là AGI. Con người rất dễ vượt qua giới hạn kiến thức của bản thân để sáng tạo ra những thứ mới mẻ. Viết văn, vẽ, trang trí và nấu ăn đều là những quy trình sáng tạo, dù nhiều người không biết điều đó. Trong khi đó, máy móc chủ yếu làm những gì chúng được yêu cầu.

Dù vậy, máy móc đang bắt đầu thể hiện khả năng sáng tạo. Ngoài tiểu thuyết 1 the Road, AI có tên Benjamin đã viết kịch bản phim viễn tưởng mang tên “Sunspring” vào năm 2016. Nó được chuyển thể thành phim và chiếu tại liên hoan phim Sci-Fi-London sau đó không lâu.

Giới báo chí cũng có lý do để lo ngại. Hàng loạt hãng truyền thông như Forbes, Washington Posts và Reuters đang dùng công cụ học máy để tạo nội dung. Bloomberg sử dụng hệ thống máy tính Cyborg biến báo cáo tài chính thành các bài viết ngắn trong chớp nhoáng, và đang đảm nhận khoảng một phần ba nội dung trên trang Bloomberg News.

Những người hoài nghi rằng viết văn là hình thức sáng tạo dễ bắt chước nhất, vì nó có các quy tắc ngữ pháp rõ ràng và kho nội dung vô hạn cho máy móc học hỏi. Tuy nhiên, sự sáng tạo của AI đang mở rộng ra nhiều lĩnh vực khác.

Kỳ thủ cờ vây Lee Sedol đối đầu với AlphaGo năm 2016. Ảnh: Reuters.
Kỳ thủ cờ vây Lee Sedol đối đầu với AlphaGo năm 2016. Ảnh: Reuters.

“AlphaGo được DeepMind phát triển đã đánh bại nhà vô địch cờ vây thế giới vào năm 2016. Nó tạo ra những nước đi hoàn toàn mới và không ai ngờ tới, vượt qua khuôn khổ dữ liệu huấn luyện từ trước. Đó là màn thể hiện sáng tạo đáng kinh ngạc”, Miller nói.

Máy móc cũng cho thấy khả năng suy nghĩ ứng biến, điều từng được cho là vượt quá khả năng của chúng. Dự án Debater của IBM năm ngoái đối đầu với Harish Natarajan, người lọt vào chung kết Giải vô địch tranh luận thế giới năm 2016, trong cuộc tranh luận về việc trẻ mầm non có nên nhận trợ cấp chính phủ hay không. Dù Natarajan giành chiến thắng, máy tính của IBM vẫn có nhiều luận điểm rất thuyết phục, tự đưa ra những phương án đáp trả Natarajan và tự ra lập luận kết thúc.

Dù hay được so sánh với nhau, bộ não con người và bộ xử lý máy tính hoạt động theo phương thức hoàn toàn trái ngược. Trong máy tính, transistor nối tiếp nhau theo chuỗi tương đối đơn giản, trong khi tế bào thần kinh kết nối chéo theo những lớp rất phức tạp.

Kỳ thủ cờ vây Lee Sedol đối đầu với AlphaGo năm 2016. Ảnh: Reuters.
Kỳ thủ cờ vây Lee Sedol đối đầu với AlphaGo năm 2016. Ảnh: Reuters.

Điều này khiến máy tính có khả năng lưu trữ lượng lớn dữ liệu và truy cập chúng theo những cách cố định, được lập trình trước. Bộ não cần nhiều thời gian để học những thông tin phức tạp, nhưng lại đủ sức tái cơ cấu và biến chúng thành những thứ hoàn toàn mới, tức là hoạt động một cách sáng tạo.

Để bắt chước đặc tính này, các nhà khoa học máy tính đang phát triển mạng lưới thần kinh nhân tạo (ANN) lấy cảm hứng từ bộ não. Chúng có thể thực hiện tác vụ bằng cách học từ ví dụ cụ thể mà không cần quy định đi kèm với nhiệm vụ. Cách tiếp cận này cho thấy thành công nhất định trong nhận dạng hình mẫu, khuôn mặt, tiếng nói và dịch ngôn ngữ.

Điều quan trọng là không có sự khác biệt vật lý giữa ANN và máy tính truyền thống. Máy móc sử dụng ANN vẫn sử dụng kết nối transistor như máy tính cá nhân, nhưng chạy phần mềm mô phỏng kết nối giữa các tế bào trong não người.

Nhiều người cho rằng những trường hợp máy móc thể hiện sáng tạo vẫn là hoạt động theo các quy chuẩn có sẵn. Ví dụ AI chỉ sáng tác nhạc khi được ra lệnh, chúng chưa thể có những khoảnh khắc bùng nổ cảm hứng như các nhạc sĩ.

“Máy móc đã có dấu hiệu sáng tạo, nhưng chúng ta không thể kết luận là chúng thực sự sáng tạo cho tới khi AI thể hiện cảm xúc, ý thức và khao khát tạo ra cái mới. Chúng cũng cần có khả năng đánh giá tác phẩm của mình. Một ngày nào đó, máy móc sẽ thật sự có khả năng sáng tạo”, Miller nói.

Điệp Anh (theo New Economy) – Vnexpress

Đọc tiếp

Công nghệ

Steve Jobs và Elon Musk – hai thái cực ở thung lũng Silicon

Đã đăng

 ngày

Bởi

Steve Jobs thay đổi thế giới bằng những sản phẩm đắt đến điên rồ, còn Elon Musk đang bán giấc mơ của loài người với giá rẻ đến không tưởng.

Thung lũng Silicon cần một lãnh đạo tinh thần. Steve Jobs đã thắp nên tinh thần sáng tạo ấy từ 40 năm trước với iPod, iPhone… Sau đó Bill Gates, Jeff Bezos, Mark Zuckerberg cùng hai nhà sáng lập Google là Larry Page và Sergey Brin… đã tiếp nhận ngọn đuốc. Nhưng Jobs và những người này không chung một nhóm. Cha đẻ iPhone là “người làm sản phẩm” thực thụ, còn những CEO công nghệ ở thung lũng Silicon thuộc về thế hệ Internet.

Đến Elon Musk thì khác. “Gã” tỷ phú gây tranh cãi nhất làng công nghệ đang thay đổi thế giới bằng những sản phẩm hữu hình như xe điện, tên lửa và vệ tinh.

Từ Steve Jobs đến Elon Musk

Khi iPhone thế hệ đầu ra đời, giới truyền thông gọi nó là “điện thoại của Chúa”. Không ai gọi Falcon 9 của SpaceX là “tên lửa của các vị thần” hay thứ gì đó tương tự. Nhưng nó lại mở ra một viễn cảnh hoàn toàn mới cho thế giới loài người. Phải mất 13 năm, thế giới công nghệ mới được chứng kiến một sản phẩm mang tính bước ngoặt.

Nếu tìm một nhân vật xứng đáng là truyền nhân của Steve Jobs (ảnh phải) trong thế giới công nghệ hiện nay thì có lẽ không ai xứng đáng hơn Elon Musk. Ảnh: ED Times.
Nếu phải tìm một nhân vật xứng đáng là “truyền nhân” của Steve Jobs (ảnh phải) trong thế giới công nghệ, không ai xứng đáng hơn Elon Musk. Ảnh: ED Times.

Jobs và Musk thuộc về thế giới khác hẳn phần còn lại của Thung lũng Silicon. Trong khi các công ty công nghệ đang phát triển theo đường tuyến tính từ 0 đến 10 theo một vòng lặp nhàm chán, sự xuất hiện của Jobs và Musk là con đường phi tuyến tính. Họ tìm kiếm một ngành công nghiệp tiềm năng, sau đó thiết lập lại các quy tắc truyền thống và làm một “vố ra trò” rồi leo lên đỉnh tháp danh vọng. Trong sinh học, có một thuật ngữ gọi là đột biến di truyền để miêu tả về bước nhảy vọt này. 

Nếu những người như Bill Gates là nhà cải cách, Jobs và Musk là những người làm cách mạng. Cải cách luôn có thể tìm ra ước số chung lớn nhất về lợi ích, còn cách mạng là thách thức các nhóm lợi ích hiện có. Đương nhiên, cách mạng luôn là con đường khó nhọc hơn nhiều.

Jobs và Musk có nhiều điểm tương đồng. Cả hai đều là dân nhập cư với giấc mơ Mỹ nồng cháy. Con đường của họ cũng vô cùng thú vị: đa màu sắc và nhiều trải nghiệm. Cả hai đều chọn một ngành công nghiệp truyền thống để làm “cách mạng” và thay đổi hoàn toàn thói quen cũng như hiểu biết của con người. Hơn hết, cả hai đều đạt được những thành tựu rực rỡ chưa từng có.

Luận về công tội, Steve Jobs và Elon Musk đều là những kẻ trái khoáy, lắm tài nhiều tật. Người yêu mến họ thì có vô số, nhưng người ghét bỏ, hoài nghi cũng không thiếu. Từ góc độ đổi mới, Jobs và Musk giống nhau. Nhưng từ góc nhìn thương mại, họ khác hoàn toàn. 

Hai thái cực ở Thung lũng Silicon

Hãy nhìn vào Jobs. Apple II, ra mắt năm 1977, là sản phẩm đầu tiên của Apple theo đúng nghĩa, bởi Apple I ra đời trong nhà để xe và chỉ bán được vài trăm chiếc. Nó thuộc về giai đoạn của Jobs và Wozniacki. Kể từ Apple II, cấu hình hàng đầu đã trở thành triết lý sản phẩm của Steve Jobs.

Cấu hình đầu bảng cũng đồng nghĩa với giá thành cao ngất ngưởng, Jobs biết và lựa chọn con đường này. Khi ra mắt, Apple II có giá 1.300 USD. Nếu tính theo giá lạm phát năm 2020, model này hiện có giá 5.300 USD. Cùng thời với Apple có một công ty sản xuất laptop cá nhân là Commodore. Model VIC-20 họ phát hành năm 1980 có giá 299 USD, rẻ hơn 1.000 USD so với sản phẩm của Apple. Tuy nhiên, bằng nhiều cách Steve Jobs vẫn thành công. Đến 1993, Apple II đã bán được hơn một triệu chiếc. Mặc dù lúc này Jobs đã rời Apple, chắc chắn nó mang lại cho ông nguồn cảm hứng mãnh liệt: Tốt nhất và đắt nhất.

Với Apple II, iPod, iPhone và các thiết bị sau này, Jobs vẫn trung thành với lựa chọn tốt nhất và đắt nhất. Ảnh: Apple Insider.
Với Apple II, iPod, iPhone và các thiết bị sau này, Jobs vẫn trung thành với lựa chọn “tốt nhất và đắt nhất”. Ảnh: Apple Insider.

Khi trở lại Apple, Jobs gây tiếng vang với mẫu iPod đầu tiên giá 399 USD. Khi đó, giá của Sony Walkman chưa đến 100 USD. Năm 2004, lợi nhuận ròng của Apple đạt 276 triệu USD, so với trước đó là 69 triệu USD. Điều này tiếp tục khẳng định lựa chọn bán sản phẩm với giá đắt đỏ của ông là đúng.

Đến năm 2007, iPhone thế hệ đầu tiên được thương mại hoá. Với thiết kế màn hình cảm ứng đa điểm đột phá, chiếc smartphone màn hình lớn có giá 500 USD. Khi mới ra mắt, iPhone là “điện thoại di động đắt nhất thế giới”. Doanh thu của iPhone chiếm một nửa thị trường di động toàn cầu.

Triết lý kinh doanh của Job là bán những thiết bị tốt nhất, trải nghiệm tuyệt vời nhất với giá đắt nhất. Con đường này không chỉ mang lại lợi nhuận mà còn gây dựng nên danh tiếng bền vững cho Apple.

Elon Musk, gã tỷ phú lập dị của làng công nghệ được ví như Iron Man ngoài đời thực. Ảnh: Sarah Lee/The Guardian.
Elon Musk, gã tỷ phú lập dị của làng công nghệ, được ví như Iron Man ngoài đời thực. Ảnh: Sarah Lee/The Guardian.

Nhưng Elon Musk thì ngược lại. Năm 2010, Falcon 9 của SpaceX ra mắt thành công với tổng chi phí sản xuất là 60 triệu USD, thấp hơn nhiều giá thị trường. Chìa khóa nằm ở việc tái sử dụng công nghệ, giúp chi phí phóng tên lửa giảm phân nửa so với truyền thống. Từ năm 2010 đến 2019, chi phí sản xuất tên lửa thương mại trên thị trường quốc tế đã giảm 25%, chủ yếu do SpaceX điều khiển.

Thống kê của NASA cho thấy chi phí gửi hàng hóa lên quỹ đạo Trái đất của SpaceX thấp đến kinh ngạc. Cụ thể, mỗi kg hàng hóa, Musk tính phí khoảng 1.950 USD, trong khi Salsa báo giá 7.246 USD và chi phí của tàu con thoi truyền thống là 19.842 USD. Chi phí để đưa một phi hành gia bay vào không gian của SpaceX khoảng 55 triệu USD, trong khi Boeing là 90 triệu USD. NASA từng trả cho Nga 86 triệu USD để đưa một phi hành gia bay vào vũ trụ. Tính trung bình, giá của Boeing cao hơn 60% so với SpaceX.

Rẻ hơn tất cả là triết lý kinh doanh của Musk. Điều này cũng đúng với cả mẫu xe điện nhắm vào phân khúc cao cấp. Tesla Model S bản đầu tiên có giá khoảng 100.000 USD. Sau đó Model X giá dưới 100.000 USD và đến Model 3, Tesla đã giảm xuống dưới 50.000 USD. Năm 2019, Model 3 có doanh số cao hơn tổng doanh số của tất cả dòng xe cỡ nhỏ và cỡ trung của BMW cộng lại. Đồng thời, Model S và Model X vẫn nằm trong top bán chạy nhất nước Mỹ.

Doug Hurley và Bob Behnken trong bộ trang phục phi hành gia hoàn toàn mới do công ty của Musk thiết kế. Họ đến Trung tâm Vũ trụ Kennedy bằng chiếc Tesla Model X để chuẩn bị cho nhiệm vụ đưa SpaceX thành công ty tư nhân đầu tiên đưa người vào không gian. Ảnh: AP.
Doug Hurley và Bob Behnken trong bộ trang phục phi hành gia hoàn toàn mới do công ty của Musk thiết kế. Họ đến Trung tâm Vũ trụ Kennedy bằng chiếc Tesla Model X để chuẩn bị cho nhiệm vụ đưa SpaceX thành công ty tư nhân đầu tiên đưa người vào không gian. Ảnh: AP.

Con đường Musk chọn là tập trung vào một sản phẩm cao cấp để làm thương hiệu, sau đó đánh chiếm thị trường bằng những model giá rẻ. Trong khi giá của iPhone ngày càng đắt đỏ, giá xe điện Tesla lại ngày càng rẻ.

Solar City, một công ty khác của Musk cũng đi theo con đường tiết kiệm tiền cho khách hàng. Họ cung cấp cho khách hàng những giải pháp phần mềm tốt nhất để tiết kiệm điện rồi mới bán đến các tấm pin năng lượng mặt trời do mình sản xuất.

Chủ sở hữu xe Tesla nghĩ rằng họ đã bước vào một lối sống mới và gia đình họ sẽ chuyển sang dùng năng lượng mặt trời bằng cách sử dụng các tấm pin năng lượng của Solar City.

Cả Steve Jobs và Elon Musk đều làm sản phẩm, bán lối sống. Nhưng họ chọn hai con đường trái ngược nhau và đạt được những thành công chưa từng có.

Khương Nha – Vnexpress

Đọc tiếp

Công nghệ

Hai năm ‘đau đầu’ của Twitter trước khi gắn cảnh báo Trump

Đã đăng

 ngày

Bởi

Quyết định có nên gắn cảnh báo vào các thông điệp của Trump đã được Twitter thảo luận trong nhiều cuộc họp suốt hai năm qua.

Vài năm gần đây, Twitter đối mặt với chỉ trích từ người dùng rằng mạng xã hội này thụ động và không nhất quán trong chính sách. Nhiều trong số 4.000 nhân viên Twitter cho rằng công ty và CEO Jack Dorsey tảng lờ những hoạt động có hại trên các tài khoản của người nổi tiếng, trong khi số khác lại lo ngại việc can thiệp vào những tài khoản này chẳng khác gì hành động kiểm duyệt nội dung.

Năm 2018, sau những phiên điều trần trước Quốc hội, Facebook đã ứng dụng AI và thuê hàng chục nghìn cộng tác viên chịu trách nhiệm duyệt nội dung và xác minh thông tin. Twitter cũng bắt đầu xóa hàng loạt tài khoản giả mạo, cấm những thông điệp mang tính thù địch.

CEO Twitter Jack Dorsey trong một hội thảo ở London năm 2019. Ảnh: Reuters.
CEO Twitter Jack Dorsey trong một hội thảo ở London năm 2019. Ảnh: Reuters.

Hai mạng xã hội này quyết định gắn cờ các nội dung vi phạm chính sách cộng đồng của mình. Tuy nhiên, từ năm 2019, hướng đi của hai bên bắt đầu khác biệt. Twitter tuyên bố cấm hoàn toàn các quảng cáo chính trị, còn Facebook chọn tiếp tục chấp nhận nội dung này, đồng thời khẳng định không phân biệt đúng sai đối với các thông tin chính trị. 

Cũng trong hai năm đó, các chính trị gia nổi tiếng như Tổng thống Mỹ Donald Trump hay Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi liên tục chọn Twitter là kênh truyền thông ưa thích để chia sẻ quan điểm, bình luận. Twitter cũng bắt đầu nhận thấy nhiều bình luận của các chính trị gia này xung đột với chính sách của công ty, mang tính xúc phạm hoặc gây ra các tác động có hại trong đời thực.

Nguồn tin thân cận với Twitter tiết lộ, đội ngũ nhân viên công ty nhiều lần họp riêng và không chính thức để thảo luận việc có nên áp dụng quy định của mình đối với các thông điệp của Trump hay không. Căng thẳng tiếp tục tăng lên trong những tuần gần đây khi Covid-19 lan rộng trên toàn cầu.

Một số nhân viên Twitter tin công ty cần thúc đẩy chính sách hạn chế nội dung mà họ cho là có hại, gây thù địch, kể cả khi thông điệp đó đến từ Trump – sở hữu tài khoản với hơn 80 triệu người theo dõi.

Đầu tháng 5, Twitter triển khai công cụ fact-check (xác minh dữ kiện) mới với mục đích gắn cảnh báo vào những thông điệp của người nổi tiếng mà họ cho là chưa chính xác nhưng không cần gỡ hoàn toàn nội dung. Công ty cho biết công cụ ra đời để xử lý các tin giả, sai lệch về Covid-19, nhưng có thể được mở rộng để áp dụng trong những trường hợp khác.

Ngày 20/5, Twitter thông báo tới đội ngũ của Trump rằng thông điệp về gian lận lá phiếu có nguy cơ bị cảnh báo fact-check. Trump đã xóa tweet này. Đến 26/5, mạng xã hội lần đầu tiên gắn công cụ xác minh dữ liệu vào hai tweet của Trump liên quan tới việc bỏ phiếu qua thư.

Theo WSJ, việc gắn fact-check này được Twitter quyết định một cách bất ngờ. Jack Dorsey cho biết: “Phải có ai đó chịu trách nhiệm về quyết định của công ty và đó là tôi”.

Đáp lại, ngày 29/5, Trump cho rằng hành động của Twitter ngăn cản tự do ngôn luận và ký sắc lệnh nhằm xóa bỏ “lá chắn pháp lý” vốn đang bảo vệ các mạng xã hội Mỹ nhiều năm qua. Tấm lá chắn này chính là Điều 230 của đạo luật về chuẩn mực truyền thông CDA, được ban hành năm 1996, phân biệt các nền tảng công nghệ với nhà xuất bản. Trong đó, mạng xã hội không phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với các nội dung mà người dùng đăng lên.

Trang Recode nhận định, nếu không có sự bảo vệ của Điều 230, Internet không thể vận hành như hiện nay, bởi các trang web hoạt động dựa trên sự đóng góp nội dung của người dùng sẽ biến mất. 

Dù vậy, nhiều nhà lập pháp Mỹ cũng cho rằng cần xét lại Điều 230 bởi các mạng xã hội không thể biện minh họ chỉ tạo ra nền tảng và “vô can” trước hoạt động của người dùng. Thời gian qua, Facebook, Twitter… cũng chịu nhiều sức ép, không chỉ ở Mỹ mà cả ở các nước khác, trong việc phải kiểm soát chặt chẽ hơn những thông tin sai lệch, thất thiệt… Giới công nghệ lo ngại, sắc lệnh, nếu có hiệu lực, sẽ mở đường cho hàng loạt vụ kiện nhằm vào các mạng xã hội.

Trong khi đó, đáp lại tuyên bố “mạng xã hội không nên làm trọng tài sự thật” của CEO Facebook, CEO Twitter khẳng định: “Chúng tôi sẽ tiếp tục chỉ ra những thông tin không chính xác hoặc còn tranh cãi về các cuộc bầu cử toàn cầu. Chúng tôi cũng sẽ sẵn sàng nhận sai lầm nếu mắc phải”.

Châu An (theo WSJ) – Vnexpress

Đọc tiếp
Advertisement

Facebook

Advertisement

Tin Nổi bật