Kết nối với chúng tôi:

Làm đẹp

Dân Sài Gòn đổ xô mua sắm thời trang Váy Emy vào dịp tết 2020

Đã đăng

 ngày

 

Cuối năm là dịp mua sắm nhộn nhịp mà người dân Sài Thành, với rất nhiều sự lựa chọn và các thương hiệu lớn nhỏ khác nhau. Trong đó,Váy Emy một trong những hãng thời trang hiếm hoi có lượng khách hàng đông kín kéo dài suốt 12 ngày sale. Mỗi ngày lượng khách từ 500 đến 1000 người mua sắm. 

Lý do nào khiến hãng thời trang Váy Emy lại được hưởng ứng và rộ lên như một nhu cầu mua sắm tất yếu dù không có giá sốc 49k,199k, mua 1 tặng 1… như các hãng thời trang cùng phân cấp

Chúng tôi nắm bắt tâm lý dịp tết ai cũng muốn có quần áo đẹp để mặc, vì vậy đội ngũ đã chuẩn bị trong suốt 2 tháng liên tục để có thể ra được số lượng mẫu mới & số lượng lên đến cả 10.000 sản phẩm để có đủ size cung cấp cho 12 ngày sale. Khách hàng đến sẽ có rất nhiều lựa chọn và trong những ngày sale chúng tôi vẫn tiếp tục ra mẫu mới. Điều này rất khác biệt với các hãng khác chỉ tập trung đẩy hàng tồn, lẻ size.. 

A Hoàng ( cố vấn của Váy Emy chia sẻ)

 Theo anh, lý do nào khiến Váy Emy có lượng khách đông liên tục kéo dài trong 12 ngày sale? 

“ Mình nghĩ, Váy Emy là phân khúc rất bình dân, giá giao động từ 480k-690k cho 1 mẫu đầm, và Gu ăn mặc khi khách hàng bước vào tiệm rất dễ chọn đồ từ công sở, đi làm, mặc ở nhà hay đi tiệc, giá sale thì vừa túi tiền với 3 mức giá 249k – 350k – 450k nên khách hàng sẽ chọn được nhiều sản phẩm,nhu cầu mua đồ mới rất cao, quan trọng nhất vẫn là thiết kế ổn và đủ size cho khách hàng chọn. ”  anh Hoàng chia sẻ

https://www.youtube.com/watch?v=-PIeHtCQs2A&feature=youtu.be

Advertisement
Nhấn vào đây để bình luận

You must be logged in to post a comment Login

Leave a Reply

Làm đẹp

nCoV Bắc Kinh có thể đến từ Đông Nam Á

Đã đăng

 ngày

Bởi

Nghiên cứu của Đại học Harvard, chủng virus lây lan trong ổ dịch Covid-19 ở chợ Tân Phát Địa, Bắc Kinh, có thể đến từ Nam Á hoặc Đông Nam Á.

Kết quả nghiên cứu đăng tải trên kho lưu trữ bioRxiv, ngày 30/6. Theo đó, các nhà khoa học đã giải trình tự gene của ba chủng virus lấy từ môi trường và hai bệnh nhân Bắc Kinh.

Georg Hahn, chuyên viên khoa Thống kê Sinh học, trường Y tế Công cộng Harvard, Mỹ, cho biết nhóm của ông đã so sánh chúng với hơn 7.000 bộ gene nCoV thu thập từ khắp nơi trên thế giới. Các mẫu virus có nhiều điểm tương đồng với chủng lưu hành chủ yếu ở châu Âu trước đó. Thế nhưng gần đây, chúng chỉ được tìm thấy tại các nước nhiệt đới châu Á.

“Ổ dịch mới tại Bắc Kinh dường như được ‘nhập ngược’ từ Đông Nam Á vào khoảng giữa tháng 4 đến đầu tháng 6”, báo cáo nêu rõ.

Các sạp hàng tại một khu chợ ở Bắc KInh được đóng cửa để hạn chế lây nhiễm nCoV, ngày 22/6. Ảnh: AFP
Các sạp hàng tại một khu chợ ở Bắc KInh được đóng cửa để hạn chế lây nhiễm nCoV, ngày 22/6. Ảnh: AFP

Theo Wu Zunyou, chuyên gia của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) Trung Quốc, điểm tương đồng của các mẫu virus có thể là manh mối quan trọng để lần ra nguồn gốc cụm dịch. Các ca nhiễm đầu tiên ở cả Vũ Hán và Bắc Kinh đều được ghi nhận tại những khu chợ buôn bán hải sản.

“Trình tự gene cho thấy mầm bệnh ở Bắc Kinh không đến từ động vật, cũng không biến đổi từ một chủng phổ biến trước đó”, ông Wu khẳng định.

Trong báo cáo hồi tuần trước, CDC Trung Quốc cũng cho biết nCoV lây lan tại thủ đô được “nhập khẩu” từ các tiểu thương hoặc thực phẩm đông lạnh.

Wu Guizhen, người đứng đầu Viện Kiểm soát và Phòng chống Dịch bệnh do Virus, cho biết mầm bệnh ở Bắc Kinh có hai đột biến từ nước ngoài, một loại xuất hiện ở châu Âu, loại khác được báo cáo lần đầu tại Anh, trước khi lan rộng sang Mỹ. Nhưng cả hai đều đã tồn tại ở Trung Quốc từ tháng 3, sau khi công dân trở về từ nước ngoài. Chúng “già” hơn về mặt di truyền so với các chủng đang lưu hành ở châu Âu hiện nay.

Nhiều chuyên gia nhận định chưa thể vội vàng kết luận về nguồn gốc của virus. Trong khi một số người cho rằng mầm bệnh ưa nhiệt độ thấp, có thể đã tồn tại ở chợ Tân Phát Địa trước khi bùng phát khoảng một đến hai tháng, nhóm nghiên cứu Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc lại tin rằng chủng nCoV trên chỉ mới đến nước này thời gian gần đây. Họ khẳng định: “Virus có thể bắt nguồn từ bất cứ đâu”.

Tính đến ngày 2/7, Bắc Kinh đã tiến hành xét nghiệm hơn 7 triệu người, ghi nhận 326 trường hợp mắc Covid-19, phần lớn lây nhiễm từ chợ Tân Phát Địa. Đây là “làn sóng thứ hai” Covid-19 tại thủ đô Trung Quốc, sau hơn 60 ngày không lây nhiễm cộng đồng.

Thục Linh (Theo SCMP) – Vnexpress

Đọc tiếp

Làm đẹp

Những ‘bệnh nhân số 0’ nổi tiếng thế giới

Đã đăng

 ngày

Bởi

Việc tìm ra “bệnh nhân số 0” trong một đại dịch là tương đối quan trọng, song đôi khi có thể khiến nhiều người mang tiếng xấu muôn đời.

Đầu những năm 1980, khi chữ cái ‘O’ được dùng để đánh dấu các bệnh nhân bị hiểu nhầm là số 0, thuật ngữ mới gây tranh cãi đã ra đời, mang tên “bệnh nhân số 0”.

“Đây là một từ rất rộng. Nó có thể là vô nghĩa, hoặc cũng có thể là khởi đầu cho tất cả”, Richard McKay, nhà sử học tại Đại học Cambridge, Anh, nhận định. Sau này người ta thường dùng nó để chỉ những cá nhân đầu tiên mang mầm bệnh đến một đất nước, khu vực.

Bệnh nhân số 0 đầu tiên

Khái niệm “bệnh nhân số 0” lần đầu xuất hiện gắn chặt với tên tuổi của Gaëtan Dugas, một tiếp viên hàng không người Pháp gốc Canada.

Năm 1981, các nhà khoa học tại Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) ghi nhận một căn bệnh bí ẩn, gây suy giảm miễn dịch ở người. Họ bắt đầu nghiên cứu một nhóm nam giới đồng tính ở California và tạm gọi tên căn bệnh là GRID (Gay Related Immune Deficiency – hội chứng suy giảm miễn dịch ở người đồng tính, tên tiền thân của HIV).

Gaëtan Dugas, từng bị truyền thông gọi là bệnh nhân số 0 mang mầm bệnh HIV đến Mỹ. Ảnh: BBC
Gaëtan Dugas, từng bị truyền thông gọi là “bệnh nhân số 0” mang mầm bệnh HIV đến Mỹ. Ảnh: BBC

Khi ấy, Dugas được cho là người đầu tiên mang HIV đến Bắc Mỹ, dựa trên nghiên cứu của CDC.

Tuy nhiên, tên gọi “bệnh nhân số 0” dành cho anh lại bắt nguồn từ một nhầm lẫn tai hại. Số 0 trong báo cáo của CDC thực chất là chữ cái O, viết tắt của “Out of California” (bên ngoài California), chỉ việc Dugas không sinh sống trong thành phố. Tuy nhiên, như vậy là quá đủ để truyền thông thêu dệt và đổ lỗi cho một “thủ phạm” duy nhất.

Dugas và cả gia đình bị chỉ trích nhiều năm liền. Trong cuốn sách về dịch HIV/AIDS của Randy Shilts mang tên “Và ban nhạc vẫn chơi”, ông bị nhắc đến như một đối tượng chống đối xã hội với đời sống tình dục trụy lạc.

Năm 1987, Tạp chí National Review gọi ông với cái tên “Ông tổ của bệnh AIDS”. Tờ New York Post ví Dugas như “người khiến chúng ta bị AIDS” ngay trên trang nhất.

Định kiến tồn tại qua nhiều thập kỷ. Đến tháng 3/2020, Tạp chí Nature chính thức “minh oan” cho ông. Các nhà khoa học chỉ ra rằng virus HIV đã xuất hiện ở Mỹ từ khoảng năm 1970, qua một dịch bệnh tại Caribe.

Dù câu chuyện về Dugas dần trôi vào quên lãng, khái niệm “bệnh nhân số 0” vẫn tồn tại đến ngày nay, để ghi nhận ca nhiễm đầu tiên của một chuỗi lây truyền lớn. Song nhiều nhà khoa học và chuyên gia y tế rất hạn chế sử dụng cụm từ này.

Mary Thương hàn

Theo Phó giáo sư Thomas Friedrich, khoa bệnh học tại Đại học Wisconsin-Madison: “Xác định một người là ‘bệnh nhân số 0’, một mặt có thể gây ấn tượng sai lệch về nguồn gốc của virus, mặt khác khiến cộng đồng nghĩ rằng nên đổ lỗi cho một cá nhân nào đó khi có dịch bệnh xảy ra”.

Ian Lipkin, giáo sư dịch tễ, giám đốc Trung tâm Nhiễm trùng và Miễn dịch, Đại học Columbia, New York, cho biết thay vì xác định “bệnh nhân số 0”, việc tìm hiểu những nguồn siêu lây nhiễm trong đại dịch có ý nghĩa hơn nhiều. Chẳng hạn, Dugas dù không phải “bệnh nhân số 0” của dịch HIV, nhưng vẫn đóng vai trò như người siêu lây nhiễm.

Một trong những trường hợp “siêu lây nhiễm và siêu ủ bệnh” đầu tiên là Mary Mallon, thường được nhắc đến với tên Mary Thương hàn.

Hình ảnh Mary Mallon được phác họa trên một tờ báo năm 1909 với tiêu đề Mary Thương hàn. Ảnh: The New York American
Hình ảnh Mary Mallon được phác họa trên một tờ báo năm 1909 với tiêu đề “Mary Thương hàn”. Ảnh: The New York American

Bà là một đầu bếp gốc Ireland, có sức khỏe bình thường. Tuy nhiên, vào một buổi tối năm 1900, các gia đình Mary giúp việc đều có biểu hiện sốt thương hàn sau khi ăn bữa tối do bà chuẩn bị. Bà sớm được truyền thông lúc bấy giờ ghi nhận là “bệnh nhân số 0”, dù chưa phát triển dấu hiệu bất thường nào.

“Có những người như Mary, vì lý do nào đó đã nhiễm bệnh và không biểu hiện triệu chứng. Nhưng họ vẫn có thể lây lan virus cho người khác”, Giáo sư Friedrich nói.

Mary buộc phải cách ly hai lần trong vòng 26 năm. Bà từng kiện cơ quan y tế New York, lập luận mình không hề cảm thấy ốm yếu, nên không thể lây bệnh cho người khác.

Đến nay, không ai biết liệu bà có thực sự là “bệnh nhân số 0” trong đợt dịch thương hàn năm đó, hay chỉ đơn giản là một nguồn siêu lây nhiễm.

Người đầu tiên mắc SARS

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), nguồn gốc của đợt bùng phát dịch Sars năm 2003 là từ bác sĩ Liu Jianlun, 64 tuổi, làm việc ở một bệnh viện phía nam tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Ông bị sốt trong thời gian ở khách sạn Metropole Hong Kong và đã lây bệnh cho 16 người khác.

“Ông ấy có thể không phải ‘bệnh nhân số 0’. Nhưng nếu xét đến tác động đối với đợt bùng phát, ông ấy là mắt xích quan trọng”, giáo sư Ian Lipkin nói.

Những vị khách từng tiếp xúc với bác sĩ Liu sau đó tỏa đi nhiều quốc gia. Chỉ trong chưa đầy 4 tháng, khoảng 4.000 người trên thế giới đã nhiễm Sars, trong đó 550 trường hợp tử vong.

Đến nay, chưa ai rõ Liu mắc bệnh từ nguồn nào. Nhiều chuyên gia phỏng đoán ông bị lây chéo virus trong bệnh viện. Trong khi đó ở Quảng Đông, người ta tin rằng “bệnh nhân số 0” là một nông dân, nhiễm Sars sau khi tiếp xúc với động vật. Những bệnh dịch như vậy được gọi là “zoonotic”.

Y tá mặc đồ bảo hộ bên ngoài một phòng khám tại Toronto, Mỹ, trong dịch Sars năm 2003. Ảnh: Reuters
Y tá mặc đồ bảo hộ bên ngoài một phòng khám tại Toronto, Mỹ, trong dịch Sars năm 2003. Ảnh: Reuters

Theo báo cáo của WHO, Sars được cho là có nguồn gốc từ loài dơi, sau đó thông qua vật chủ trung gian khác, chẳng hạn cầy hương, để lây nhiễm cho người.

Theo Tiến sĩ Richard Stein, Đại học Y khoa New York, 60% các loại bệnh truyền nhiễm xuất phát từ động vật. “Ước tính, đến năm 2020, sẽ có khoảng 10 đến 40 loại virus mới xuất hiện ở người”, ông nói.

Tuy nhiên, giáo sư Thomas Friedrich cho rằng ngăn chặn mầm bệnh lây từ động vật sang người không phải điểm mấu chốt để loại trừ đại dịch. Trên thực tế, virus sẽ luôn truyền từ động vật sang người. “Chìa khóa ở đây là không để chúng lan từ một người sang nhiều người hơn”, ông nói.

Sự khởi nguồn của các đợt dịch cúm

Năm 2004, Captain Boonmanuch, một cậu bé 6 tuổi, được ghi nhận là bệnh nhân mắc cúm gia cầm (H5N1) đầu tiên ở Thái Lan, khi virus lây lan rộng khắp châu Á. Captain có thể không phải “bệnh nhân số 0”, nhưng gia đình cho biết em đã bị ốm sau khi bắt một con gà để mang sang nhà chú mình. Nhiều người tin rằng con gà khi ấy đã mắc cúm và lây cho cậu bé.

Kể từ năm 2003 đến 2016, toàn thế giới có 850 trường hợp nhiễm H5N1, trong đó 452 người tử vong.

“Các dịch bệnh mới xuất hiện ở người thường bắt nguồn từ việc tiếp xúc với động vật. Virus thực ra là các chủng tái tổ hợp từ mầm bệnh cư trú trên các loài chim hoặc động vật”, Giáo sư Bertram Jacobs, Đại học Arizona, nói.

Hiện tượng tái tổ hợp xuất hiện khi vật liệu di truyền từ hai hoặc nhiều loại virus, lây nhiễm cùng một vật chủ, trộn lẫn với nhau. Đây cũng chính là điều đã xảy ra đối với cúm lợn H1N1. Virus xuất hiện ở người gây ra đại dịch năm 1918.

Đến 2009, căn bệnh một lần nữa lây lan toàn cầu. Bệnh nhân đầu tiên nhiễm H1N1 khi ấy được xác nhận là một cậu bé 5 tuổi, tên Edgar Hernandez, sinh sống tại thị trấn La Gloria của Mexico.

Thục Linh (Theo CNN) – Vnexpress

Đọc tiếp

Làm đẹp

Cuộc sống biệt lập người dân nơi ổ dịch bạch hầu

Đã đăng

 ngày

Bởi

Không sóng điện thoại, đường sá đi lại khó khăn, cụm dân cư 12 ở xã Đăk R’măng, huyện Đăk G’long, hầu như bị cô lập hoàn toàn với bên ngoài.

Đầu tháng 7, Tây Nguyên bắt đầu mùa mưa, hơn 50 km đường đất đỏ dẫn vào cụm 12 trở nên lầy lội. Nhiều dốc cao dựng đứng, ngoằn ngoèo. Muốn vào được ổ dịch bạch hầu, cán bộ y tế mất gần 3 giờ chạy xe máy mới đến nơi.

Một góc khu dân cư cụm 12. Ảnh: Trần Hóa.
Một góc khu dân cư cụm 12. Ảnh: Trần Hóa.

Khu cách ly cụm dân cư 12 – nơi có ba ca nhiễm bạch hầu, có 61 hộ, với 320 nhân khẩu, người dân tộc H’Mông. Họ sống giữa một bên là núi, bên kia ngăn cách dòng sông là địa phận tỉnh Lâm Đồng. Từ khi dịch bùng phát, thực hiện cách ly, người dân đa số chỉ luẩn quẩn trong nhà, không cho con trẻ ra khỏi nhà chơi.

Ở trong căn nhà vách gỗ đã 10 ngày, Giàng A Cú, 20 tuổi, không biết em trai Giàng A Phủ 13 tuổi của mình đang được điều trị ở đâu, tình trạng sức khỏe như thế nào. Cú chỉ biết rằng, hôm bố mẹ chở đi bệnh viện, Phủ đã “nặng lắm”. Anh muốn gọi hỏi thăm sức khỏe em, nhưng ngại leo lên ngọn núi cao vài trăm mét trước nhà tìm sóng điện thoại. Cú đành ngồi nhà đợi tin, lo cơm nước cho bốn đứa em còn lại.

Anh Cú kể, gia đình từ Bắc vào Đăk Nông sống và lập nghiệp hàng chục năm trước. Cuộc sống tương đối no đủ nhờ vào 4.000 cây cà phê và vài sào ruộng. Do đường sá đi lại khó khăn, trường học cách nhà hơn 20 km, nên Cú và A Phủ chưa một ngày đến lớp. Hai người em của Cú may mắn hơn, đang học cấp hai.

Nửa tháng trước, A Phủ vẻ mệt mỏi, nằm lì trên giường mà không chạy nhảy, đi câu cá với đám trẻ con trong làng như bình thường. Bố mẹ đã cho A Phủ uống thuốc cảm và loại thuốc bằng lá, rễ cây rừng nhưng không khỏi. Ngày 18/6, em có biểu hiện nặng, được bố mẹ chở vào Trung tâm Y tế huyện Đăk G’long khám.

“Mới nghe các cán bộ y tế bảo, Phủ bị bệnh bạch hầu, đã chuyển xuống TP HCM”, Cú nói. Anh cho biết, không nhớ các em của mình đã tiêm vaccine phòng bạch hầu hay chưa.

Trước đây, anh thường thấy cán bộ đến tận nhà tiêm, cả gia đình chẳng ai quan tâm, vì phải lên nương rẫy. Họ thậm chí không biết bệnh bạch hầu là gì, nguy hiểm ra sao.

Bác sỹ Kle khám cho Giàng A Cú - anh trai Giàng A Phủ. Ảnh: Trần Hóa.
Bác sĩ K’le khám cho Giàng A Cú – anh trai Giàng A Phủ. Ảnh: Trần Hóa.

Vài ngày sau khi em trai của Cú phát bệnh, Trung tâm Y tế xã về lập chốt cách ly trên con đường độc đạo (cách làng khoảng 7 km). Các bác sĩ tiến hành khám sàng lọc, phun thuốc khử khuẩn, cho người dân cả cụm 12 uống thuốc phòng bệnh bạch hầu, Cú mới lờ mờ hiểu.

Cách nhà Cú khoảng 200 m, mấy hôm nay, chị Ma Thị Chư, 38 tuổi, luôn nhắc nhở bốn đứa con của chị (8 -16 tuổi) phải ở trong nhà cho hết thời gian cách ly. Chị cấm chúng không được sang chơi ở ba căn nhà có ca nhiễm bạch hầu. Chồng chị vẫn lên nương, sau khi cam kết với cán bộ y tế không tiếp xúc với ai.

“Con tôi thường hay chơi với Giàng A Phủ, nhưng may mắn bác sĩ khám nó không bị nhiễm bệnh”, chị Chư nói. Chị nhớ mang máng, trong nhà chỉ có đứa 8 tuổi được tiêm chủng đầy đủ, những bé còn lại hầu như không tiêm. Một phần do chị thấy nhiều đứa trẻ hàng xóm la khóc sau khi tiêm xong, sợ con mình bị đau nên không cho tiêm.

Bác sĩ K’Le, Phó trạm Y tế xã Đăk R’măng cho biết, sau khi nhận được tin có ba ca dương tính bạch hầu, 12 cán bộ y tế xã và huyện lập tức vào khoanh vùng, lập chốt không cho người dân ra vào khu cách ly. Đồng thời, ngành y tế cũng khử trùng, xử lý… khu vực theo trình tự. Hiện người dân đã uống đủ 7 ngày thuốc phòng bệnh, và dịch cơ bản đã được khống chế.

Trong bốn năm công tác tại xã, hàng tháng anh K’Le cùng các đồng nghiệp đều thực hiện việc tiêm vaccine đầy đủ cho người dân toàn xã. Song cụm 12 là nơi xa nhất, đường đi khó nhất. Cán bộ y tế phải mượn nhà dân ở lại qua đêm.

“Nhiều lúc mang thuốc, mang vaccine vào tận nhà, nhưng nhiều ông bố bà mẹ không cho tiêm cho bọn trẻ, đành ra về”, anh K’Le nhớ lại.

Cách ổ dịch cụm 12, xã Đăk R’măng gần 100 km, barie chốt kiểm soát ở xã Quảng Hòa (có năm ca dương tính bạch hầu, trong đó một ca tử vong) đã được tháo dỡ. Cả gia đình anh Vũ Mỹ Dinh, 38 tuổi, tỏ ra vui vẻ khi được đi lại tự do ra bên ngoài.

Gia đình anh Vũ Mỹ Dinh. Ảnh: Trần Hóa.
Gia đình anh Vũ Mỹ Dinh. Ảnh: Trần Hóa.

Bên trong căn nhà bằng tôn, trống rỗng không có vật dụng gì giá trị, ngoài hai cái giường và chiếc bàn gỗ xiêu vẹo. Năm đứa con anh (3-13 tuổi), áo quần cáu bẩn, chân tay lấm lem chạy nhảy trên nền đất. Sau vườn, vợ anh Dinh đang hái ngọn bí, chuẩn bị bữa cơm trưa. Một nồi cơm trắng, hai quả trứng là tất cả bữa trưa của gia đình anh hôm đó.

Vợ chồng Dinh vội vàng ăn xong bữa, chuẩn bị một bao lúa mang lên chòi rẫy cách 30 km, cho đàn gà 50 con bị bỏ đói suốt 10 ngày cách ly và chăm sóc vườn cà phê hơn 2.000 gốc. Ba đứa con của họ sửa soạn áo quần quay trở lại trường.

Nhà anh Dinh gần trung tâm xã Quảng Hòa, nhưng từ trước đến nay anh chưa từng nghe đến căn bệnh bạch hầu. Chỉ khi có một đứa 9 tuổi chết, vợ chồng anh mới lo lắng cho những đứa con của mình. Theo trí nhớ của anh, chỉ hai trong số năm đứa con của anh được tiêm chủng trong khi các con anh thỉnh thoảng cũng chơi với những đứa trẻ đã nhiễm bệnh. “Nhưng nay các cháu đã được uống thuốc, tiêm vaccine đầy đủ, vợ chồng tôi rất an tâm”, anh Dinh cho hay.

Ông Huỳnh Thanh Huynh, Giám đốc Trung tâm Y tế huyện Đăk G’long cho biết, ổ dịch cụm 12, xã Đăk R’măng, ngày 2/7 mới dỡ bỏ cách ly, sau đó tiếp tục tiêm vaccine phòng bệnh cho người dân.

Theo ông Huynh, trên địa bàn huyện, người H’mông sống rải rác chủ yếu ở vùng sâu, đồi núi cao. Nên việc tuyên truyền cũng như tiêm chủng gặp nhiều khó khăn. “Về tiêm chủng mở rộng, tỷ lệ chung toàn huyện của vùng đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khoảng 52 %”, ông Huynh nói.

Trong tháng 6, Đăk Nông ghi nhận 12 ca bạch hầu, trong đó một bé tử vong, một bé là Giàng A Phủ bị biến chứng nguy kịch được đưa về Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới TP HCM điều trị.

Trần Hóa – Vnexpress

Đọc tiếp
Advertisement

Facebook

Advertisement

Tin Nổi bật