Kết nối với chúng tôi:

Công nghệ

Cỗ máy cho vay online, giải ngân trong 3 phút của Jack Ma

Đã đăng

 ngày

 

Ngân hàng online của Jack Ma đã giải ngân hàng trăm tỷ USD cho gần 16 triệu công ty nhỏ và tỷ lệ vỡ nợ chỉ là 1%.

Ngân hàng online đang tạo ra một cuộc cách mạng lặng lẽ trong cách cho vay doanh nghiệp nhỏ tại Trung Quốc. Sử dụng các dữ liệu thanh toán theo thời gian thực và hệ thống đánh giá rủi ro dựa trên hơn 3.000 yếu tố, MYbank đã giải ngân 2.000 tỷ NDT (290 tỷ USD) cho gần 16 triệu công ty nhỏ trong 4 năm qua.

Người vay chỉ cần vài thao tác trên smartphone là sẽ nhận được tiền gần như ngay lập tức nếu được chấp thuận. Toàn bộ quá trình chỉ mất 3 phút, không cần nhân viên thực và tỷ lệ vỡ nợ đến nay chỉ là 1%.

Sự bùng nổ fintech đã biến Trung Quốc thành thị trường lớn nhất thế giới cho thanh toán điện tử. Hiện tại, nó lại đang thay đổi cách tương tác giữa ngân hàng với các công ty. MYbank thu thập hàng loạt dữ liệu mới từ hệ thống thanh toán, mạng xã hội và các nguồn khác. Vì thế, họ thoải mái hơn trong việc cho vay các đối tượng nhỏ thường bị ngân hàng quốc doanh e ngại.

Một biển quảng cáo của MYbank tại Trung Quốc. Ảnh: IC
^ Một biển quảng cáo của MYbank tại Trung Quốc. Ảnh: IC

Với quy mô khổng lồ của nền kinh tế Trung Quốc, tác động của việc này có thể sẽ rất lớn. Các công ty tư nhân tại đây chủ yếu là công ty nhỏ, đóng góp 60% tăng trưởng, tạo việc làm cho 80% lao động, nhưng vài năm nay lại đói vốn vì chiến dịch hạn chế cho vay phi truyền thống của giới chức.

Cliff Sheng – người đứng đầu bộ phận dịch vụ tài chính Trung Quốc tại hãng tư vấn Oliver Wyman cho biết, Trung Quốc đang ngày càng trở thành cái tên dẫn đầu trong việc sử dụng dữ liệu lớn và công nghệ trí tuệ nhân tạo để cho vay. Trung Quốc có lợi thế trong vấn đề này, do họ thoải mái với dữ liệu cá nhân hơn nhiều nơi khác.

Một nguồn thông tin độc đáo cho các ngân hàng là hệ thống chấm điểm công dân, đang được thử nghiệm tại nhiều thành phố nước này. Trong một cuộc phỏng vấn gần đây, Giám đốc Mybank Jin Xiaolong lấy ví dụ, nếu chủ một doanh nghiệp nhỏ bị giảm điểm tín nhiệm vì quên trả ô đã mượn, người này cũng sẽ khó đi vay hơn.

Tuy nhiên, nguồn dữ liệu lớn nhất có thể đến từ các hãng cung cấp dịch vụ thanh toán, như Ant Fianancial của Jack Ma. Công ty này là cổ đông lớn nhất của MYbank. Khi được người cho vay đồng ý chia sẻ dữ liệu, MYbank sẽ phân tích các giao dịch theo thời gian thực để đánh giá độ tin cậy của họ. Ví dụ, số tiền thanh toán từ khách cho cửa hàng trung tâm của một công ty giảm có thể báo hiệu triển vọng kinh doanh của công ty này đi xuống.

Nhờ có nhiều thông tin hơn, tỷ lệ chấp thuận cho vay tại MYbank cao gấp 4 lần ngân hàng truyền thống. Chi phí khi xử lý một khoản vay cũng chỉ là 3 NDT, thấp hơn rất nhiều so với trung bình 2.000 NDT ở nhà băng thông thường.  

MYbank năm ngoái đạt lợi nhuận 670 triệu NDT. Họ cũng không phải công ty duy nhất sử dụng công nghệ để tăng cho vay doanh nghiệp nhỏ. Tencent Holdings và Ping An Insurance có dịch vụ tương tự. Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc (CCB) cũng đang tích cực tăng hiện diện trong mảng này, bằng một ứng dụng trên điện thoại có thể xử lý đề nghị cho vay lên tới 5 triệu NDT trong 2 phút.

“Đây là mảng kinh doanh rất lời lãi, miễn là bạn biết cách quản lý rủi ro”, Zhang Gengsheng – Phó giám đốc CCB Bắc Kinh cho biết, “Chúng tôi từng chịu khoản lỗ khổng lồ với tỷ lệ nợ xấu 8%. Nhưng giờ chúng tôi đang dần quay lại cuộc chơi”.

Nhiều dấu hiệu chỉ ra cho vay doanh nghiệp nhỏ tại Trung Quốc đang liên tục tăng trưởng. Hồi tháng 2, giới chức ngân hàng nước này kêu gọi nhà băng quốc doanh tăng cho vay doanh nghiệp nhỏ thêm ít nhất 30% năm nay. Theo Viện Tài chính và Phát triển Quốc gia Trung Quốc, đến năm 2018, khoảng hai phần ba trong 80 triệu doanh nghiệp nhỏ Trung Quốc không được tiếp cận vốn vay.

Còn với Zeng Ping’en – chủ một cửa hàng nhỏ tại Hàng Châu với doanh thu hàng năm 1,2 triệu NDT, ứng dụng cho vay của MYbank là bước ngoặt với anh. Sau khi để MYbank phân tích dữ liệu giao dịch, Zeng đã nhận được các khoản vay nhỏ cho nhu cầu tiền mặt ngắn hạn. Lãi suất của anh vào khoảng 15% một năm.

“Thật khó tưởng tượng. Chỉ cách đây vài năm thôi, chẳng ngân hàng nào chấp nhận cho tôi vay cả”, anh nói, “Giờ thì tôi có thể vay bất kỳ lúc nào”.

Hà Thu (theo Bloomberg)

Advertisement
Nhấn vào đây để bình luận

You must be logged in to post a comment Login

Leave a Reply

Công nghệ

Khe cửa hẹp cho mạng xã hội ‘made in Vietnam’

Đã đăng

 ngày

Bởi

Hàng chục triệu người Việt đang dùng Facebook, biết đến Twitter nhưng chẳng mấy ai ngờ hiện đã có 436 mạng xã hội “made in Vietnam”. 

Về 436 mạng xã hội nội địa, Viện Chiến lược Thông tin và Truyền thông (Bộ Thông tin và Truyền thông) nhận định, hầu hết hoạt động theo dạng diễn đàn, không được ưa chuộng so với các mạng xã hội nước ngoài có nhiều ứng dụng nổi trội, cấu trúc phong phú, giao diện thu hút, khả năng tương tác và liên kết cộng đồng cao.

Cũng bởi vậy, rất ít mạng xã hội của Việt Nam tồn tại được quá một năm. 9 năm trước, mạng xã hội Go.vn ra đời kèm theo tuyên bố chắc nịch từ lãnh đạo của dự án này là: Soán ngôi Facebook sau 6 tháng với 5 triệu người dùng. Đơn vị này cũng đặt mục tiêu chiếm 40–50% lưu lượng truy cập mạng xã hội tại Việt Nam vào năm 2015. Nhưng rồi dự án mau chóng thất bại, chuyển thành một trang tin tức tổng hợp. Tương tự Go.vn, còn nhiều cái tên mạng xã hội cũng ra mắt đình đám nhưng sớm “chết yểu” như Zingme, Tamtay.vn, Yume.vn…

Cuộc đua làm mạng xã hội

Làn sóng làm mạng xã hội được thổi bùng khoảng một năm trở lại đây, đặc biệt sau khi các nhà quản lý bày tỏ tham vọng về mạng xã hội “made in Vietnam” thay vì để thị phần rơi vào tay Facebook. Mục tiêu là đến năm 2022, số người dùng bằng hoặc hơn số tài khoản Facebook tại Việt Nam (60 triệu) và chiếm 60-70% thị phần. 

Từ đây, cuộc đua thành lập mạng xã hội tại Việt Nam lại bước vào một chặng mới. Các mạng xã hội mới được ra mắt từ đầu năm đi theo hướng đề cao sự tương tác, kết nối nhận được không ít kỳ vọng nhưng cũng đối mặt nhiều thách thức.

Người dùng trải nghiệm các mạng xã hội: Lotus, Facebook, Gapo (từ trái qua). Ảnh: Anh Tú.

Tháng 2/2019, Công ty TNHH Sản xuất và Đầu tư thương mại Nhật Việt – doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh chính là sản xuất đồ kim loại ra mắt trang mạng xã hội có tên gọi VietNamTa. Tuy nhiên, sau đó nhiều người dùng đặt nghi vấn nhà phát triển “bê nguyên xi” giao diện của Facebook, tốc độ tải trang chậm cũng như bị nghi ngại về tính bảo mật, xác thực tài khoản.

Không lâu sau, đầu tháng 6, mạng xã hội chuyên về du lịch Hahalolo cũng được giới thiệu kèm theo tuyên bố sẽ đạt “2 tỷ người dùng trong 5 năm tới, đồng thời sẽ niêm yết trên sàn chứng khoán Nasdaq (Mỹ)” và cạnh tranh trực tiếp với Facebook. Tuy nhiên, với cơ sở nền tảng được giới công nghệ đánh giá là còn sơ sài, sao chép tính năng, gặp lỗi khi đăng nhập, đăng ký… nên mục tiêu này khiến nhiều người e ngại về tính khả thi. 

Chỉ một tháng sau, thị trường đón nhận thêm một tên tuổi mới là Gapo – mạng xã hội nhận đầu tư 500 tỷ đồng từ Quỹ đầu tư G-Capital. Bên cạnh việc tập trung các tính năng tương tác, đơn vị phát triển Gapo cho biết sẽ chia sẻ lợi nhuận với người dùng đã định danh, tạo nội dung hấp dẫn trên nền tảng mà không cần là một KOL (người có sức ảnh hưởng trên cộng đồng) hay người nổi tiếng. Nhà phát triển cũng kỳ vọng đạt 20 triệu người dùng vào năm 2021. Nhưng chỉ vài giờ sau khi ra mắt, Gapo vướng nhiều lỗi kỹ thuật khi người dùng mới thực hiện thao tác đăng ký. Việc trang mạng xã hội này không phát triển phiên bản web cũng được coi là một trong những hạn chế.

Cuộc đua trở nên nóng hơn khi mạng xã hội Lotus được VCCorp ra mắt vào ngày 16/9 và bắt đầu chạy bản thử nghiệm. Nhà phát triển tuyên bố đầu tư 1.200 tỷ đồng để theo đuổi dự án này. Không chỉ những tên tuổi mới, ứng dụng Mocha – một công cụ giao tiếp được phát triển bởi Viettel từ cuối năm 2018 cũng nâng cấp trở thành một mạng xã hội dành cho giới trẻ.

Cơ hội cho những ‘tay chơi’ bản địa

Trong bối cảnh người Việt rất “chuộng” mạng xã hội, cơ hội cho các nhà phát triển không nhỏ. Nhưng đồng thời, thống kê hơn 60 triệu người Việt đang có tài khoản Facebook lại đang không ủng hộ họ mà trở thành thách thức rất lớn.

Người dùng ngày càng có nhiều lựa chọn mạng xã hội. Ảnh: Anh Tú.

Chia sẻ về định hướng phát triển mạng xã hội Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng từng cho rằng, các doanh nghiệp phải có cách tiếp cận mới, khác biệt căn bản với Facebook.

Ông Trần Anh Dũng – CEO&Founder Công ty cổ phần MOG Việt Nam cho rằng, nếu mạng xã hội của Việt Nam cạnh tranh trực tiếp với Facebook thì hầu như không có cửa, trừ khi Chính phủ có một số chính sách để phát triển những “tay chơi bản địa” với ưu đãi riêng để tạo lợi thế cạnh tranh.

Trong khi đó, nếu chọn thị trường ngách thì chuyên gia này cho rằng, các nhà phát triển Việt Nam vẫn còn cơ hội. Ở nước ngoài, nhiều nơi vẫn tồn tại nhiều mạng xã hội cùng phát triển nhưng cần có ý tưởng mới mẻ và xác định đúng lợi thế cạnh tranh. 

“Tại Việt Nam, một số đơn vị xác định chọn hướng khác Facebook nhưng vẫn chưa rõ ràng để tin rằng liệu họ có thể trở thành một Twitter hay Snapchat hay không”, ông Dũng nói. 

Theo ông, những nhà phát triển mới sẽ phải đối mặt với 2 vấn đề lớn là thu hút người dùng và bài toán doanh thu. Ở bài toán thu hút người dùng, trong bối cảnh nhiều mạng xã hội đã nở rộ và có thị phần rõ rệt sẽ không dễ dàng. Bởi theo ông, đặc tính của cộng đồng là nơi nào đông đúc thì dễ thu hút người vào hơn.

“Một số đơn vị đang cố gắng để tạo sự khác biệt nhưng tôi không chắc đã đủ hấp dẫn người dùng hay chưa. Bởi cũng giống như một cái chợ, nếu không có người vào, chẳng biết mua bán với ai thì người ta sẽ sớm đi ra mà thôi”, ông Dũng nói. 

Đối với bài toán đầu tư và doanh thu, theo ông Dũng, việc phát triển một sản phẩm công nghệ là luôn đổi mới, không dừng lại nên nếu số vốn đầu tư không đủ lớn, mô hình không đủ tốt thì sẽ “đốt” tiền rất nhanh. Và khi đó, trào lưu phát triển mạng xã hội sẽ lại gặp thực trạng như vài năm trước là “chết như ngả rạ”. 

Trong khi đó, một chuyên gia giấu tên cho rằng, những mạng xã hội ra mắt trong thời gian qua của Việt Nam đa số còn chưa mới mẻ, thậm chí một số là phiên bản “copy” của những tên tuổi lớn.

Nguyễn Hà – Vnexpress

Đọc tiếp

Công nghệ

50 triệu tài khoản Facebook Việt Nam bị lộ số điện thoại

Đã đăng

 ngày

Bởi

419 triệu hồ sơ người dùng Facebook chứa số điện thoại bị rò rỉ trực tuyến, trong đó, Việt Nam có 50 triệu tài khoản.

Cụ thể, người dùng tại Mỹ bị rò rỉ nhiều nhất với 133 triệu hồ sơ, tiếp đến là Việt Nam với hơn 50 triệu và Anh với 18 triệu. Do máy chủ chia sẻ không được bảo vệ bằng mật khẩu, nhiều khả năng số dữ liệu này đã bị nhiều người tải xuống.

Hàng trăm triệu người dùng Facebook bị lộ thông tin tài khoản.
Hàng trăm triệu người dùng Facebook bị lộ thông tin tài khoản.

Theo phân tích của Techcrunch, mỗi bản ghi của hồ sơ chứa ID Facebook và số điện thoại liên kết với tài khoản đó. Một số hồ sơ khác còn đi kèm tên người dùng Facebook, giới tính và địa điểm theo quốc gia. Sanyam Jain, một nhà nghiên cứu bảo mật và là thành viên của GDI Foundation, còn tìm thấy ID Facebook và số điện thoại của một số người nổi tiếng.

ID Facebook là chuỗi số định danh duy nhất của người dùng, giúp phân biệt họ với người khác. Trong khi đó, số điện thoại cũng là dữ liệu quan trọng không kém. Nếu bị lộ, người dùng có thể đối mặt với nguy cơ về các cuộc gọi và tin nhắn rác, lừa đảo, thậm chí bị đánh cắp tài khoản.

Cơ sở dữ liệu của người dùng tại Anh, trong đó, mã vùng +44 là mã vùng của nước Anh.
Cơ sở dữ liệu của người dùng tại Anh, trong đó, mã vùng +44 là mã vùng của nước Anh. 

Phát ngôn viên Facebook, Jay Nancarrow, cho biết dữ liệu này đã bị bỏ trước khi Facebook ngừng cung cấp quyền truy cập vào số điện thoại của người dùng năm ngoái. “Bộ dữ liệu này dường như đã cũ và nó được thu thập từ trước khi chặn tính năng tìm kiếm qua số điện thoại. Tệp dữ liệu này đã bị gỡ và chúng tôi không thấy bằng chứng nào cho thấy tài khoản Facebook bị xâm phạm”, Nancarrow nói.

Một số chuyên gia bảo mật đánh giá, đợt rò rỉ dữ liệu này rất nghiêm trọng, là sai sót bảo mật lớn nhất của Facebook sau vụ Cambridge Analytica. Trước đó, bê bối này đã khiến Facebook phải nộp phạt cho Ủy ban Thương mại Liên bang Mỹ (FTC) khoản tiền lên tới 5 tỷ USD.

Bảo Lâm (theo Techcrunch) – Vnexpress

Đọc tiếp

Công nghệ

Nhiều người chuộng tai nghe ‘nhái’ Apple Airpods

Đã đăng

 ngày

Bởi

Đỗ Nam, chủ một cửa hàng phụ kiện online, không dám nhận thêm yêu cầu mua “Airpods” nhái, vì hàng nhập về không đủ để trả khách. 

Trong không gian chưa đến 20 mét vuông, vừa là nơi làm việc, vừa là nhà kho, của một shop bán phụ kiện online tại quận Thanh Xuân (Hà Nội), 2 nhân viên đang tất bật đóng gói tai nghe để gửi cho đơn vị chuyển phát. Một người vừa gọi điện “chốt” đơn, vừa tư vấn cho khách hàng trên Fanpage. 

Đỗ Nam, chủ cửa hàng nói “mình còn không dám nhận thêm ‘đơn’, vì hàng chưa kịp về”. Anh Nam cho hay, tai nghe nhái Airpods hiện là món bán chạy nhất tại cửa hàng. “Tháng vừa rồi mình bán gần 500 chiếc, hàng về còn không đủ trả khách”, Nam nói.

Sản phẩm mà anh Nam nhắc đến được biết trên thị trường với tên gọi “Airpods hàng Replica”, nhưng thực chất là những chiếc tai nghe “nhái” theo sản phẩm của Apple. Dòng sản phẩm này đã có mặt tại Việt Nam từ lâu nhưng mới nổi lại gần đây vì tính năng ngày càng được cải tiến giống sản phẩm thật.

Airpods "nhái" được nhiều người chọn mua vì giá rẻ chỉ bằng 1/10 sản phẩm thật. Ảnh: Bảo Lâm.
Airpods “nhái” được nhiều người chọn mua vì giá rẻ chỉ bằng 1/10 sản phẩm thật. Ảnh: Bảo Lâm.

Hiện có 2 loại tai nghe kiểu này trên thị trường: Một là y hệt sản phẩm gốc, từ vỏ hộp tới cách đóng gói và các phụ kiện bên trong. Loại này rẻ hơn nhiều so với Apple Airpods “xịn” nhưng giá cũng 1-2 triệu đồng, thường để “dụ” những người mua ít kinh nghiệm. Loại thứ hai nhái về kiểu dáng, tính năng và mang thương hiệu khác như TWS, Hoco được bán với giá vài trăm nghìn đồng. Với loại thứ hai, “khách hàng biết đây không phải là sản phẩm Apple, nhưng vẫn vui vẻ mua vì giá rẻ”, anh Nam cho biết. Với nhiều khách hàng, số tiền khoảng 4 triệu đồng cho một chiếc tai nghe như Airpods là vượt quá khả năng. Khi đó, họ chọn Airpods “nhái”.

Tai nghe thương hiệu Trung Quốc nhái Airpods cũng được bán nhiều trên các trang thương mại điện tử với giá từ 200.000 đến 700.000 đồng. Các chủ đề về loại sản phẩm này thu hút được khá nhiều sự quan tâm trên các diễn đàn công nghệ. 

Có gian hàng bán tai nghe “nhái” Airpods trên một trang thương mại điện tử tại Việt Nam cũng ghi nhận doanh số lên tới 1,6 nghìn chiếc cho một mẫu sản phẩm chỉ trong vòng 2 tháng lên kệ. 

Minh Quân (Thanh Xuân, Hà Nội) vừa mua chiếc tai nghe có tên TWS i30. Theo anh, tai nghe mới mua chẳng thua kém hàng Apple là bao, trong khi giá chỉ bằng 1/10. “Mình thích Airpods vì nó thời trang và đeo thoải mái. Thấy chiếc tai nghe i30 này cũng gần giống đồ Apple, mà giá chỉ vài trăm nghìn nên mình mua”. Quân thừa nhận có những điều không hài lòng trong quá trình sử dụng, nhưng nếu xét với số tiền vài trăm nghìn đồng thì chấp nhận được.

Trần Văn (Từ Liêm, Hà Nội) tự nhận mình là “fan” của dòng sản phẩm này. Với túi tiền của sinh viên không nhiều, Văn cho biết ban đầu anh mua một chiếc có giá chỉ hơn 100.000 đồng. “Dùng được mấy hôm thì hỏng, nhưng bỏ 100 nghìn mà biết thế nào là ‘True Wireless’ thì cũng đáng”, anh nói. Sau đó anh tiếp tục tích cóp để “lên đời” những mẫu tai nghe nhái khác và thấy thích thú vì thị trường đa này quá đa dạng. “Chỉ thêm vài chục nghìn là có thể kiếm được chiếc tai nghe với tính năng mới khác hẳn, thậm chí còn hơn cả Airpods xịn” anh kể.

Tai nghe "nhái" cũng có tính năng tự động phát hiện như tai nghe thật. Ảnh: CT
Tai nghe “nhái” cũng có tính năng tự động phát hiện như tai nghe thật. Ảnh: CT

Nhiều dòng tai nghe “nhái” hiện nay không chỉ copy ngoại hình của sản phẩm gốc, mà còn bổ sung thêm tính năng. Một số tai nghe giá khoảng 500.000 đồng còn có cả sạc không dây như Airpods 2 mới nhất, nhiều đèn báo hơn, điều khiển được cả điện thoại Android. Khi đưa lại gần iPhone và mở nắp, tai nghe sẽ hiện một cửa sổ pop-up trên máy và đề nghị kết nối – điều mà trước đây chỉ có những chiếc Airpods chính hãng mới làm được. Ngoài ra, các thao tác điều khiển cảm ứng trên thân tai cũng được làm y như thật.

Tuy nhiên, những chiếc Airpods “nhái” này chưa thể sao chép được những tính năng tốt nhất của sản phẩm Apple. “Chất âm trung bình, kết nối không ổn định và pin báo chưa chuẩn”, thành viên trên một diễn đàn công nghệ nhận xét. Ngoài ra do kích thước nhỏ, không có các cảm biến trên thân tai và không sử dụng chip điều khiển của hãng, chúng không thể tự động dừng nhạc khi người dùng bỏ khỏi tai, không thể tùy biến để thay đổi thao tác điều khiển như hàng thật.

Một số người cho biết, tai nghe của họ gặp lỗi một thời gian ngắn sử dụng, chẳng hạn nghe rè, sạc pin không lên, mất tiếng ở một hoặc cả hai bên tai, nhưng vì giá trị nhỏ nên họ thường không yêu cầu bảo hành.

“Tai nghe nhái dùng vài tháng là hỏng. Tổng số tiền bỏ ra cho mấy chiếc này chắc cũng đủ mua một chiếc Airpods cũ, nhưng vì mình thích trải nghiệm mà ngân sách lại không nhiều nên Airpods nhái vẫn là lựa chọn”, Trần Văn chia sẻ.

Lưu Quý – Vnexpress

Đọc tiếp
Advertisement

Facebook

Advertisement

Tin Nổi bật