Kết nối với chúng tôi:

Công nghệ

Lời tự thú của hacker từng ‘cứu’ Internet

Đã đăng

 ngày

 
Ở tuổi 23, Marcus Hutchins được coi là người hùng khi một mình ngăn vụ tấn công mạng nghiêm trọng nhất trong lịch sử – WannaCry. Nhưng rồi cậu bị FBI bắt.

Một sáng tháng 8/2017, hacker 23 tuổi với mái tóc xoăn nâu bước ra khỏi tòa nhà Airbnb ở Las Vegas, nơi cậu ở trong một tuần rưỡi, để nhận bánh mì kẹp và khoai tây chiên McDonald’s đã đặt. Khi đứng trước sảnh, Hutchins thấy chiếc SUV đen đỗ bên đường, trông rất bí ẩn kiểu FBI. 

Cậu nhìn chằm chằm chiếc xe, đầu vẫn lơ mơ vì thiếu ngủ, tự hỏi: “Cuối cùng điều đó cũng đến ư?” Rồi cậu lập tức gạt đi, tự nhủ FBI chẳng bao giờ lộ liễu như vậy. 

Hutchins nhận đồ ăn, quay vào trong tận hưởng bữa sáng, rồi gói ghém hành lý, bắt Uber ra sân bay với tấm vé hạng nhất về Anh. Cậu vừa trải qua một tuần bận rộn tại Defcon, một trong những hội thảo hacker lớn nhất thế giới, nơi cậu được ca tụng như người hùng.

Marcus Hutchins. Ảnh: Wired.
Marcus Hutchins. Ảnh: Wired.

Chưa đầy ba tháng trước đó, Hutchins cứu Internet khỏi một cuộc tấn công mạng được đánh giá là tồi tệ nhất lịch sử: mã độc tống tiền WannaCry. Mã độc này hoành hành từ ngày 12/5/2017, lây lan tại hơn 150 nước và phá hủy dữ liệu trên hàng trăm nghìn máy tính. Hutchins phát hiện tính năng giống như “công tắc” (kill-switch) ẩn trong đoạn mã, có thể ngừng mối đe dọa WannaCry.

Cậu tạo nên câu chuyện hấp dẫn khó cưỡng trên truyền thông: Hutchins, chàng hacker trẻ tuổi và rụt rè, một mình chống lại “quái vật” đe dọa thế giới số. Hình ảnh cậu ngồi trước màn hình máy tính trong phòng ngủ, nơi cậu sống cùng bố mẹ ở miền tây nước Anh xa xôi, thật bí ẩn.

Ngập trong những lời tán tụng, Hutchins không nghĩ nhiều khi thấy chiếc SUV. Hồ sơ tại tòa sau này cho thấy, chiếc SUV đen đã bám theo Hutchins suốt thời gian cậu ở Las Vegas.

Khi Hutchins ngồi trong phòng chờ và viết dở thông điệp lên Twitter, ba người tiến lại gần, đề nghị cậu theo họ tới một lối đi riêng. Tại đó, cậu bị còng tay bởi người đàn ông có mái tóc đỏ. Cảm thấy sốc, Hutchins điểm qua những hoạt động trái phép có thể khiến hải quan để mắt tới. Chắc chắn, cậu nghĩ, không thể là “thứ đó”, bởi nó đã xảy ra vài năm trước và chưa từng được nhắc đến. Hay cậu để quên cần sa trong túi?

Với giọng thân thiện, những người này, tự giới thiệu là đến từ FBI, hỏi cậu về quá trình học tập và Kryptos Logic, công ty bảo mật cậu đang làm việc. Rồi họ hỏi cậu về một chương trình có tên Kronos.

“Kronos. Tôi biết”, cậu trả lời, cảm thấy tê cóng và hiểu rằng từ đây, cậu không thể trở về nhà.

Hành trình sa lầy trong thế giới tội phạm mạng

14 năm trước đó, rất lâu trước khi Marcus Hutchins trở thành anh hùng hay kẻ xấu trong mắt mọi người, bố mẹ cậu – Janet và Desmond – chuyển tới vùng Devon hẻo lánh ở Anh. Hutchins, lúc đó 9 tuổi, không hòa hợp với đám trẻ ở đây. Nhưng điều khiến cậu nổi bật là sự đam mê với máy tính so với lứa tuổi. Cha cậu thường phát cáu khi thấy con trai tháo rời chiếc máy tính Dell hoặc cài đầy chương trình lạ hoắc lên đó. Cậu sớm nhận thấy lập trình là “cánh cửa để làm bất cứ điều gì bạn muốn”.

Sinh nhật 13 tuổi, sau nhiều lần “đấu tranh”, cha mẹ cũng đồng ý mua cho cậu máy tính riêng. Bà Janet lo con trai quá mê đắm trong thế giới số nên cài công cụ kiểm soát vào máy tính nhưng cậu dễ dàng chiếm lại quyền admin. “Chẳng có cách nào quản được Marcus bởi nó luôn thông minh hơn chúng tôi”, Janet nói.

Khi lang thang trên các diễn đàn, Hutchins thấy một hacker tạo sâu MSN ẩn dưới bức ảnh JPEG. Khi ai đó mở ra, sâu sẽ tự gửi tới mọi người trong danh sách chat. Hutchins không biết sâu đó ra đời với mục đích gì, nhưng cậu đặc biệt ấn tượng và muốn tạo ra một thứ như vậy. Một năm sau, Hutchins chia sẻ thành quả đầu tiên lên forum: một công cụ đánh cắp mật khẩu mà người dùng lưu trên web. Mã độc đầu tiên của Hutchins được khen ngợi, dù cậu không biết dùng mật khẩu đánh cắp vào việc gì, đơn giản nó rất “ngầu”.

Năm 15 tuổi, gia đình Hutchins chuyển tới một căn nhà mới. Cùng khoảng thời gian này, cậu tham gia cộng đồng HackForums, nơi đầy rẫy chia sẻ về botnet – mạng lưới máy tính bị nhiễm mã độc, chuyên dùng để tấn công từ chối dịch vụ DDoS. Hutchins cũng tự tạo botnet đầu tiên với 8.000 máy tính ma. Cậu cũng bắt đầu “sự nghiệp” cung cấp dịch vụ web hosting cho các trang web bất hợp pháp.

Hutchins dành hàng giờ trước máy tính để chơi game và tạo mã độc. Ảnh: Wired.
Hutchins dành hàng giờ trước máy tính để chơi game và tạo mã độc. Ảnh: Wired.

Trong một lần đăng đoạn mã độc thử nghiệm, một thành viên HackForums tỏ ra ấn tượng và đề nghị cậu viết chương trình chống các phần mềm diệt virus. Cậu được trả 200 USD. Khách hàng tiếp theo trả 800 USD để tạo rootkit ăp cắp mật khẩu web. Hutchins bắt đầu nổi danh và khi 16 tuổi, cậu có một khách hàng nghiêm túc hơn, biệt danh Vinny. 

Vinny muốn một rootkit đa chức năng để bán trên các chợ đen của hacker. Thay vì trả trọn gói, ông ta sẽ chia sẻ một nửa lợi nhuận trong việc kinh doanh rootkit. Họ thường trao đổi ẩn danh, không lưu lại cuộc trò chuyện. Một lần, Hutchins ca thán không mua được loại “cỏ” chất lượng ở quê mình. Vinny nói sẽ gửi cho cậu từ trang thương mại mới thành lập Silk Road. Silk Road thực chất là chợ ma túy trực tuyến mới ra đời năm 2011. Vinny hỏi địa chỉ và ngày sinh của Hutchins. Trong ngày sinh nhật 17 tuổi, một bưu kiện được gửi tới nhà cậu, bên trong đầy “cỏ”, nấm gây ảo giác và thuốc lắc.

Hutchins hoàn thành rootkit UPAS Kit trong 9 tháng và tới hè 2012, mã độc này bắt đầu được rao bán. Vinny trả cho cậu hàng nghìn USD dưới dạng bitcoin. Hutchins bỏ học, nói với cha mẹ rằng cậu đang tham gia dự án lập trình riêng.

Sau đó, Vinny đề nghị nâng cấp lên UPAS Kit 2.0 với công cụ keylogger ghi lại mọi hoạt động mà nạn nhân gõ từ bàn phím, khả năng nhìn thấy màn hình của họ và quan trọng hơn, ông muốn chèn nội dung vào trang mà nạn nhân đang xem, kỹ thuật gọi là web inject.

Yêu cầu cuối khiến Hutchins thấy khó chịu. Web inject có mục đích rất rõ ràng: để thực hiện các vụ lừa đảo qua ngân hàng. Đa số ngân hàng đòi hỏi hai lớp bảo mật khi thực hiện giao dịch chuyển tiền. Hệ thống sẽ gửi tin nhắn chứa mã số tới điện thoại của khách hàng và yêu cầu nhập mã vào trang web để xác thực. Web inject giúp hacker qua mặt lớp bảo mật này.

Trong vài năm, Hutchins đã từng bước tiến vào đường hầm của tội phạm online. Nhưng đề nghị của Vinny khiến cậu không chấp nhận, bởi những người vô tội sẽ bị lấy đi những khoản tiết kiệm. “Tôi không viết trojan ngân hàng”, cậu trả lời.

Người này liền nhắc nhở, với giọng điệu vừa đùa cợt vừa đe dọa, rằng ông ta biết rõ danh tính và địa chỉ nhà cậu. Nếu mối quan hệ kinh doanh của họ chấm dứt, ông ta sẽ gửi thông tin cho FBI. Hoảng sợ và giận dữ, nhưng Hutchins vẫn từ chối bởi cậu biết rõ Vinny cần kỹ năng của mình. Cuối cùng, hai bên thỏa thuận nâng cấp UPAS Kit mà không có tính năng web inject.

Sau 9 tháng, phiên bản mới của UPAS Kit đã sẵn sàng. Ngay khi nhận được code, Vinny tiết lộ đã thuê người khác tạo web inject. Hutchins sững sờ và hiểu cậu không thể chống lại Vinny. Mã độc đã viết xong. Và nói chung, cậu là tác giả của nó. Hutchins muốn dừng hợp tác, nhưng Vinny nói đằng nào ông ta cũng đã có mọi thứ cần thiết cho một trojan ngân hàng dù cậu có tham gia hay không. Mã độc vẫn được bán, trong khi cậu tốn công sức mà không được đồng nào.

Tức giận vì rơi vào bẫy, Hutchins đành tiếp tục nâng cấp công cụ cho Vinny. Cậu biết rõ sớm muộn FBI cũng xuất hiện với lệnh bắt giữ. Cũng từ đó, cậu nhận ra tình yêu lập trình đã hoàn toàn biến mất.

Lúc đó, Zeus là một trong những trojan ngân hàng khét tiếng, nên Vinny quyết định đổi tên UPAS Kit thành Kronos – cha của Zeus trong thần thoại Hy Lạp.

Năm 19 tuổi, gia đình Hutchins chuyển nhà lần nữa. Rồi cậu quen qua diễn đàn một người tên Randy. Sau khi đề nghị viết mã độc ngân hàng nhưng bị từ chối, người này nhờ cậu viết một số ứng dụng doanh nghiệp và giáo dục. Randy tỏ ra là người hào phóng và còn hỏi địa chỉ để gửi iMac làm quà. Dĩ nhiên cậu đồng ý vì những gì họ làm hoàn toàn hợp pháp. 

Không như Vinny, Randy rất cởi mở về cuộc sống cá nhân. Hai người trở nên thân thiết, thậm chí gọi điện video với nhau. Randy tin tưởng Hutchins đến mức gửi cậu số tiền ảo giá trị hơn 10.000 USD để nhờ giao dịch giúp. Một sáng mùa hè 2015, Hutchins tỉnh dậy và phát hiện nhà mất điện khiến máy tính bị tắt và mất trắng giao dịch 5.000 USD tiền bitcoin

Hutchins gọi cho Randy, thú nhận đã làm mất tiền của ông. Để bù đắp, cậu tiết lộ mình là tác giả Kronos. Do Randy từng nói muốn mã độc ngân hàng trước đây, cậu đề nghị cung cấp cho ông một bản miễn phí và Randy đồng ý. Một lần nữa, Hutchins nhận ra mình mắc một sai lầm ghê gớm. Chắc chắn, sẽ có ngày Randy bị bắt khi sử dụng mã độc và cậu sẽ bị cảnh sát hỏi thăm.

Thời gian này, Hutchins dừng hợp tác với Vinny, chấm dứt những năm tháng đen tối trong thế giới tội phạm mạng. 

Giai đoạn ‘hậu Kronos’

Hutchins mở lại blog MalwareTech lập từ năm 2013 và chia sẻ các kỹ thuật liên quan tới mã độc, thu hút cả khách “mũ trắng” và “mũ đen”. Cậu cũng dịch ngược mã nguồn và phân tích các botnet lớn như Kelihos hay Necurs.

Không lâu sau, Salim Neino, CEO của hãng bảo mật Kryptos Logic (Mỹ), gửi email cho MalwareTech đề nghị cậu làm việc cho họ: xây dựng hệ thống theo dõi các botnet để cảnh báo nạn nhân nếu địa chỉ IP của họ xuất hiện trong mạng máy tính ma. Neino trả Hutchins 10.000 USD.

Sau khi hoàn thành công việc đầu tiên, Hutchins phát triển công cụ theo dõi botnet thứ hai. Kryptos Logic mời cậu về làm với mức lương lên tới sáu chữ số. Hutchins tưởng Neino đang đùa: “Gì cơ? Ông định trả cho tôi ngần này tiền mỗi tháng?”.

“Xét về nghiên cứu botnet, cậu ấy là một trong những người giỏi nhất thế giới. Chỉ trong khoảng 3-4 tháng, chúng tôi đã theo dõi mọi botnet toàn cầu”, Neino nói.

Hutchins vẫn đăng bài trên MalwareTech và Twitter. Ngoài Kryptos Logic và vài bạn thân, không ai biết danh tính người đứng sau MalwareTech.

Mùa thu 2016, mã độc Mirai xuất hiện, lây lan trên thiết bị IoT và tạo ra những cuộc tấn công DDoS với mức độ “khủng khiếp”, khiến Internet tại Mỹ và châu Âu ngưng trệ, hay đánh gục hạ tầng mạng quốc gia của Liberia. Trong các cuộc DDoS lớn nhất trước đó, botnet có thể tạo lưu lượng truy cập vài trăm gigabit/giây, còn với Mirai, nạn nhân bị tấn công với lưu lượng lên đến 1,1 terabit mỗi giây. Tháng 1/2017, một cuộc tấn công tương tự nhằm vào ngân hàng lớn nhất nước Anh Lloyds, khiến hệ thống không thể truy cập nhiều lần trong vài ngày.

Hutchins lần theo cơn sóng thần Mirai và phát hiện thông tin liên lạc của hacker đứng sau. Cậu nhanh chóng liên hệ, chia sẻ cho hacker về tình cảnh của khách hàng Lloyds khi không thể vào được tài khoản, một số mắc kẹt ở nước ngoài mà không có tiền. Cậu cũng khuyến cáo ngân hàng là cơ sở hạ tầng quan trọng nên cơ quan tình báo Anh sẽ sớm tìm ra kẻ điều khiển botnet.

Các cuộc DDoS ngân hàng dừng lại. Hutchins kể lại câu chuyện trên Twitter, nói cậu không ngạc nhiên khi hacker lắng nghe. “Rất ít người thực sự xấu xa, đa số chỉ là xa rời nỗi khổ của nạn nhân, không cảm nhận được hậu quả. Cho tới khi ai đó kết nối với họ”, cậu nói.

Người hùng diệt WannaCry

Ngày 12/5/2017, Hutchins bắt đầu kỳ nghỉ kéo dài một tuần.

Hôm ấy, Henry Jones, bác sĩ gây mê ở Bệnh viện Hoàng gia London cách đó hơn 300 km, bắt đầu thấy điều gì đó không ổn. Ông và đồng nghiệp không thể đăng nhập vào hệ thống email. Thực ra, họ đã quen với việc này vì máy tính của họ vẫn đang chạy Windows XP, hệ điều hành đã gần 20 năm tuổi.

Sau đó, chuyên gia IT tới và giải thích một virus đang lan khắp mạng lưới bệnh viện nước Anh. Một PC trong phòng khởi động lại và Jones thấy thông điệp rằng các file đã bị mã hóa, cần trả số bitcoin trị giá 3.000 USD để chuộc lại.

Jones được thông báo mọi ca phẫu thuật bị hoãn vì máy tính dừng hoạt động. Trong vài giờ, virus mã hóa dữ liệu tại phòng khám của hơn 600 bác sĩ, khiến 20.000 cuộc hẹn bị hủy, cũng như làm ngưng trệ hoạt động ở hàng chục bệnh viện. “Có bệnh nhân có thể phải chết vì việc này”, Jones nghĩ.

Các chuyên gia bảo mật gọi mã độc là WannaCry (Muốn khóc). Nó nguy hiểm bởi có thể làm biến mất toàn bộ dữ liệu và có tốc độ lây lan còn nhanh hơn các đại dịch lớn trong lịch sử. WannaCry khai thác lỗ hổng EternalBlue trên hệ điều hành Windows. Không chỉ hệ thống y tế Anh, nó ảnh hưởng tới hãng đường sắt Deutsche Bahn (Đức), nhà sản xuất ôtô Renault, Nissan, Honda, các sở cảnh sát ở Ấn Độ, hãng viễn thông Tây Ban Nha Telefónica, hãng chuyển phát FedEx và cả Boeing… Mức độ thiệt hại, ước tính trong buổi chiều hôm đó, là từ 4 tỷ đến 8 tỷ USD.

14h30, Marcus Hutchins mở máy tính và thấy thế giới Internet đang hoảng loạn. “Tôi chọn đúng tuần quái quỷ để nghỉ ngơi”, cậu viết trên Twitter.

Trong vài phút, một người bạn hacker có tên Kafeine gửi Hutchins đoạn sao chép mã WannaCry. Cậu phát hiện trước khi mã hóa file, mã độc gửi lệnh tới trang web có địa chỉ như được gõ bừa iuqerfsodp9ifjaposdfjhgosurijfaewrwergwea.com.

Khi một mã độc kết nối tới domain như vậy, thường có nghĩa nó đang liên lạc với một máy chủ điều khiển và ra lệnh từ xa. Hutchins chép địa chỉ vào trình duyệt và ngạc nhiên thấy site không tồn tại. Cậu lập tức vào dịch vụ đăng ký tên miền Namecheap và mua tên miền này với giá 10,69 USD. Hutchins hy vọng có thể kiểm soát một phần những máy tính nhiễm WannaCry từ tác giả mã độc, hay ít nhất có thể theo dõi số lượng và vị trí của máy tính bị nhiễm. Hành động này được giới bảo mật gọi là kỹ thuật sinkhole.

Ngay sau khi thiết lập tên miền trên cụm máy chủ của Kryptos Logic, nó bị dội về hàng nghìn kết nối từ những thiết bị “dính” WannaCry trên toàn cầu. Hutchins chia sẻ điều này lên Twitter và lập tức nhận hàng trăm email từ các nhà nghiên cứu, nhà báo, quản trị hệ thống… 

Trong khoảng bốn giờ tiếp theo, cậu dựng bản đồ theo dõi lượt lây nhiễm mới, như cậu từng làm với botnet Kelihos, Necurs… Trước khi mã hóa file, mã độc kết nối tới địa chỉ web của Hutchin. Nếu không kết nối được, nó sẽ phá hủy nội dung trên máy tính. Nói cách khác, nếu tên miền của Hutchins tiếp tục hoạt động, các ca nhiễm mới vẫn lan rộng nhưng không gây thiệt hại vì mã độc đã bị cô lập. Hutchins đã tìm ra “công tắc” tắt mã độc.

“Nếu tên miền sập, khủng hoảng WannaCry sẽ được tái khởi động”, cậu nói

Ngay sau đó, một trong những botnet của mã độc Mirai mở cuộc tấn công DDoS với mục tiêu kéo sập tên miền Hutchins đang nắm giữ. Thậm chí, cảnh sát Pháp hiểu lầm tên miền sinkhole này thuộc về những tên tội phạm đứng sau WannaCry nên đã thu giữ hai máy chủ của công ty Kryptos. Trong một tuần, Hutchin gần như không ngủ để giữ “công tắc” tắt WannaCry không bị đụng tới.

Trong lúc đó, danh tính của Hutchins cũng bị phát hiện. Sáng 14/5/2017, một nhà báo xuất hiện trước cửa nhà Hutchins bởi cô nhận ra cậu qua một bức ảnh trên Facebook với chú thích MalwareTech. Báo chí Anh bắt đầu đăng loạt bài về “người dùng cứu thế giới từ phòng ngủ”. Hutchins thậm chí phải nhảy qua tường rào sau nhà để tránh phóng viên. Để không bị làm phiền, cậu chỉ đồng ý trả lời phỏng vấn AP, thậm chí căng thẳng tới mức còn đọc sai họ của mình.

Hutchins căng thẳng bởi lo ngại kẻ đứng đằng sau sẽ tung ra phiên bản mới của WannaCry để loại bỏ “công tắc” của cậu. Nhưng điều đó không xảy ra. Khi mối nguy hiểm qua đi, “sếp” Neino cảm thấy lo lắng cho tình trạng sức khỏe của Hutchins. Một tuần sau khi WannaCry bùng phát, cậu được trả hơn 1.000 USD cho mỗi giờ ngủ.

Hutchins thu hút hơn 100.000 người theo dõi trên Twitter. Những người lạ cũng nhận ra và mời cậu đồ uống để cảm ơn vì cứu Internet. Nhưng phải tới hội thảo hacker Defcon ba tháng sau đó, Hutchins mới thực sự cảm nhận cậu là “ngôi sao nhạc rock” của thế giới bảo mật.

Đã ba năm trôi qua kể từ vụ Kronos, cuộc sống vẫn tốt đẹp. Cậu cho phép mình quên đi nỗi lo rằng hành động phạm pháp của mình sẽ phải trả giá. Cho tới ngày cuối ở Las Vegas, khi cậu nhìn thấy chiếc SUV màu đen.

Hutchins bị bắt chỉ ba tháng sau khi nổi tiếng. Ảnh: Wired.
Hutchins bị bắt chỉ ba tháng sau khi nổi tiếng. Ảnh: Wired.

Hutchins thú nhận với FBI rằng cậu tạo một phần mã độc Kronos nhưng đã dừng phát triển nó trước khi 18 tuổi. Nhưng mọi hy vọng tiêu tan khi các điều tra viên cho cậu xem bản in đoạn chat với Randy khi cậu đã qua tuổi 20, trong đó cậu nói sẽ gửi Randy bản sao của Kronos.

“Thành thật mà nói, Marcus, chuyện này không dính dáng tới WannaCry”, Lee Chartier, điều tra viên với mái tóc đỏ, nói và rút ra lệnh bắt giữ Hutchins. Chuỗi ngày tạm giam ở nơi cách xa quê hương hơn 8.000 km là khoảng thời gian cô đơn nhất đối với hacker 23 tuổi.

“Người hùng diệt WannaCry bị bắt tại Mỹ” là tiêu đề của hàng loạt bài báo vào ngày hôm sau. Những cuộc tranh cãi nổ ra trên mạng và trong giới bảo mật. Nhiều người ủng hộ Hutchins, nhưng cũng nhiều người tìm lại các hoạt động phạm pháp của cậu trên HackForums.

Tháng 4/2019, Hutchins đồng ý với một thỏa thuận rằng cậu sẽ nhận hai tội danh để các công tố viên giảm 8 tội danh khác. Với mỗi tội, Hutchins đối mặt 5 năm tù giam và khoản tiền phạt 250.000 USD.

“Tôi nhận hai tội liên quan tới việc viết mã độc nhiều năm trước khi tham gia công việc bảo mật. Tôi hối hận về hành động này và chịu mọi trách nhiệm cho lỗi lầm của mình”, Hutchins viết trên website.

Tuy nhiên, trong phiên tòa ở Milwaukee (Mỹ) tháng 7/2019, Hutchins được thả tự do, được phép trở lại Anh dưới sự giám sát và không bị phạt bất cứ khoản tiền nào.

“Tôi không muốn là người chặn WannaCry hay người viết mã Kronos. Tôi chỉ muốn là ai đó có thể giúp mọi thứ tốt đẹp hơn”, Hutchins chia sẻ.

Châu An (theo Wired) – Vnexpress

Công nghệ

Dấu hiệu cho thấy AI ngày càng giống con người

Đã đăng

 ngày

Bởi

“Đó là lúc 9h17 sáng và không khí ngôi nhà rất nặng nề” là câu mở đầu tiểu thuyết “1 the Road

1 the Road ra đời năm 2018. Điểm đặc biệt là tác phẩm không có tác giả, ít nhất là theo định nghĩa truyền thống.

Những câu văn xuôi được kết hợp bởi mạng lưới thần kinh với trí nhớ ngắn hạn, sử dụng dữ liệu từ camera giám sát và hàng loạt cảm biến gắn trên một xe tải di chuyển từ thành phố New York đến New Orleans. Kết quả là “phiên bản AI” cho cuốn tiểu thuyết On the Road của Jack Kerouac ra đời.

Thể hiện sức sáng tạo tương đương con người là một thách thức lớn đối với AI, nhưng hàng loạt tiến bộ đang xuất hiện trong thời gian qua.

1 the Road là một trong các ví dụ cho thấy AI có thể được dùng cho mục đích sáng tạo. Những người làm công việc chân tay từ lâu đã hiểu rằng quy trình tự động hóa sẽ đe dọa sinh kế của họ, trong khi giới nhạc sĩ, họa sĩ và nhà văn luôn tin máy móc không thể tái hiện tác phẩm của họ. Tuy nhiên, niềm tin này dường như đang lung lay.

AI luôn xuất hiện trong danh sách 10 xu thế công nghệ chiến lược hàng đầu của Gartner từ năm 2015. Công nghệ trí tuệ nhân tạo và ảnh hưởng của nó với thế giới từ lâu đã được coi trọng, nhưng khó có thể sàng lọc thông tin thực sự giữa những kỳ vọng được cường điệu hóa. Khoa học viễn tưởng vẽ nên nhiều hình ảnh của AI, từ những robot giúp việc nhân từ cho đến các siêu máy tính hủy diệt thế giới. Rõ ràng, công nghệ hiện nay chưa đạt tới mức đó.

Tuy nhiên, AI cũng không phải công nghệ tương lai, nó đã hiện diện trong cuộc sống hiện tại. Khi khách hàng gặp vấn đề với sản phẩm hoặc dịch vụ, họ có thể tìm đến website của doanh nghiệp và trò chuyện online để giải quyết tình hình. Cuộc đối thoại có thể diễn ra giữa khách hàng với trợ lý ảo. Chúng mang hình ảnh thân thiện và cách phản ứng giống con người, dù chỉ là những dòng code lập trình.

Trong lĩnh vực sản xuất, các tập đoàn như BMW, Airbus và LG đang dùng AI để tăng hiệu quả, an toàn và độ tin cậy trong nhà máy. Ở quy mô gia đình, AI có thể giúp máy hút bụi xác định kích thước phòng và những chướng ngại vật, từ đó xác định đường lau dọn hiệu quả nhất và tự hoạt động mà không cần tác động từ con người.

Đây đều là những thành tựu ấn tượng, gần như không thể tưởng tượng chỉ cách đây vài chục năm. Tuy nhiên, vẫn có tranh luận cho rằng chúng chưa trở thành AI thực sự khi chỉ vận hành theo các thông số có sẵn, không thể hoạt động khi xuất hiện yếu tố bất thường ngoài thiết kế.

“Trí tuệ nhân tạo tổng thể” (AGI) thường dùng để chỉ những cỗ máy có thể áp dụng kiến thức và kỹ năng trong nhiều tình huống khác nhau, tức là có thể tự học và giải quyết vấn đề như con người.

“Nhiều loại AI hiện nay được xếp vào nhóm ‘AI hẹp’, chỉ hoạt động theo những quy chuẩn rõ ràng. Tuy nhiên, đang có nhiều dự án nghiên cứu máy móc đa năng. Công ty DeepMind đang phát triển một phiên bản của chương trình cờ vua AlphaZero nhằm ứng dụng vào nghiên cứu y khoa, cụ thể là quá trình cuộn gập protein”, tác giả Arthur Miller nhận xét.

Xe tự lái, trợ lý cá nhân ảo như Alexa và cả những bộ lọc spam tự động cũng được coi là AI hẹp. Dù công nghệ đang phát triển rất nhanh, vẫn chỉ có rất ít ứng dụng có thể coi là AGI.

Sức sáng tạo là một trong những trở ngại lớn nhất để ứng dụng có thể coi là AGI. Con người rất dễ vượt qua giới hạn kiến thức của bản thân để sáng tạo ra những thứ mới mẻ. Viết văn, vẽ, trang trí và nấu ăn đều là những quy trình sáng tạo, dù nhiều người không biết điều đó. Trong khi đó, máy móc chủ yếu làm những gì chúng được yêu cầu.

Dù vậy, máy móc đang bắt đầu thể hiện khả năng sáng tạo. Ngoài tiểu thuyết 1 the Road, AI có tên Benjamin đã viết kịch bản phim viễn tưởng mang tên “Sunspring” vào năm 2016. Nó được chuyển thể thành phim và chiếu tại liên hoan phim Sci-Fi-London sau đó không lâu.

Giới báo chí cũng có lý do để lo ngại. Hàng loạt hãng truyền thông như Forbes, Washington Posts và Reuters đang dùng công cụ học máy để tạo nội dung. Bloomberg sử dụng hệ thống máy tính Cyborg biến báo cáo tài chính thành các bài viết ngắn trong chớp nhoáng, và đang đảm nhận khoảng một phần ba nội dung trên trang Bloomberg News.

Những người hoài nghi rằng viết văn là hình thức sáng tạo dễ bắt chước nhất, vì nó có các quy tắc ngữ pháp rõ ràng và kho nội dung vô hạn cho máy móc học hỏi. Tuy nhiên, sự sáng tạo của AI đang mở rộng ra nhiều lĩnh vực khác.

Kỳ thủ cờ vây Lee Sedol đối đầu với AlphaGo năm 2016. Ảnh: Reuters.
Kỳ thủ cờ vây Lee Sedol đối đầu với AlphaGo năm 2016. Ảnh: Reuters.

“AlphaGo được DeepMind phát triển đã đánh bại nhà vô địch cờ vây thế giới vào năm 2016. Nó tạo ra những nước đi hoàn toàn mới và không ai ngờ tới, vượt qua khuôn khổ dữ liệu huấn luyện từ trước. Đó là màn thể hiện sáng tạo đáng kinh ngạc”, Miller nói.

Máy móc cũng cho thấy khả năng suy nghĩ ứng biến, điều từng được cho là vượt quá khả năng của chúng. Dự án Debater của IBM năm ngoái đối đầu với Harish Natarajan, người lọt vào chung kết Giải vô địch tranh luận thế giới năm 2016, trong cuộc tranh luận về việc trẻ mầm non có nên nhận trợ cấp chính phủ hay không. Dù Natarajan giành chiến thắng, máy tính của IBM vẫn có nhiều luận điểm rất thuyết phục, tự đưa ra những phương án đáp trả Natarajan và tự ra lập luận kết thúc.

Dù hay được so sánh với nhau, bộ não con người và bộ xử lý máy tính hoạt động theo phương thức hoàn toàn trái ngược. Trong máy tính, transistor nối tiếp nhau theo chuỗi tương đối đơn giản, trong khi tế bào thần kinh kết nối chéo theo những lớp rất phức tạp.

Kỳ thủ cờ vây Lee Sedol đối đầu với AlphaGo năm 2016. Ảnh: Reuters.
Kỳ thủ cờ vây Lee Sedol đối đầu với AlphaGo năm 2016. Ảnh: Reuters.

Điều này khiến máy tính có khả năng lưu trữ lượng lớn dữ liệu và truy cập chúng theo những cách cố định, được lập trình trước. Bộ não cần nhiều thời gian để học những thông tin phức tạp, nhưng lại đủ sức tái cơ cấu và biến chúng thành những thứ hoàn toàn mới, tức là hoạt động một cách sáng tạo.

Để bắt chước đặc tính này, các nhà khoa học máy tính đang phát triển mạng lưới thần kinh nhân tạo (ANN) lấy cảm hứng từ bộ não. Chúng có thể thực hiện tác vụ bằng cách học từ ví dụ cụ thể mà không cần quy định đi kèm với nhiệm vụ. Cách tiếp cận này cho thấy thành công nhất định trong nhận dạng hình mẫu, khuôn mặt, tiếng nói và dịch ngôn ngữ.

Điều quan trọng là không có sự khác biệt vật lý giữa ANN và máy tính truyền thống. Máy móc sử dụng ANN vẫn sử dụng kết nối transistor như máy tính cá nhân, nhưng chạy phần mềm mô phỏng kết nối giữa các tế bào trong não người.

Nhiều người cho rằng những trường hợp máy móc thể hiện sáng tạo vẫn là hoạt động theo các quy chuẩn có sẵn. Ví dụ AI chỉ sáng tác nhạc khi được ra lệnh, chúng chưa thể có những khoảnh khắc bùng nổ cảm hứng như các nhạc sĩ.

“Máy móc đã có dấu hiệu sáng tạo, nhưng chúng ta không thể kết luận là chúng thực sự sáng tạo cho tới khi AI thể hiện cảm xúc, ý thức và khao khát tạo ra cái mới. Chúng cũng cần có khả năng đánh giá tác phẩm của mình. Một ngày nào đó, máy móc sẽ thật sự có khả năng sáng tạo”, Miller nói.

Điệp Anh (theo New Economy) – Vnexpress

Đọc tiếp

Công nghệ

Steve Jobs và Elon Musk – hai thái cực ở thung lũng Silicon

Đã đăng

 ngày

Bởi

Steve Jobs thay đổi thế giới bằng những sản phẩm đắt đến điên rồ, còn Elon Musk đang bán giấc mơ của loài người với giá rẻ đến không tưởng.

Thung lũng Silicon cần một lãnh đạo tinh thần. Steve Jobs đã thắp nên tinh thần sáng tạo ấy từ 40 năm trước với iPod, iPhone… Sau đó Bill Gates, Jeff Bezos, Mark Zuckerberg cùng hai nhà sáng lập Google là Larry Page và Sergey Brin… đã tiếp nhận ngọn đuốc. Nhưng Jobs và những người này không chung một nhóm. Cha đẻ iPhone là “người làm sản phẩm” thực thụ, còn những CEO công nghệ ở thung lũng Silicon thuộc về thế hệ Internet.

Đến Elon Musk thì khác. “Gã” tỷ phú gây tranh cãi nhất làng công nghệ đang thay đổi thế giới bằng những sản phẩm hữu hình như xe điện, tên lửa và vệ tinh.

Từ Steve Jobs đến Elon Musk

Khi iPhone thế hệ đầu ra đời, giới truyền thông gọi nó là “điện thoại của Chúa”. Không ai gọi Falcon 9 của SpaceX là “tên lửa của các vị thần” hay thứ gì đó tương tự. Nhưng nó lại mở ra một viễn cảnh hoàn toàn mới cho thế giới loài người. Phải mất 13 năm, thế giới công nghệ mới được chứng kiến một sản phẩm mang tính bước ngoặt.

Nếu tìm một nhân vật xứng đáng là truyền nhân của Steve Jobs (ảnh phải) trong thế giới công nghệ hiện nay thì có lẽ không ai xứng đáng hơn Elon Musk. Ảnh: ED Times.
Nếu phải tìm một nhân vật xứng đáng là “truyền nhân” của Steve Jobs (ảnh phải) trong thế giới công nghệ, không ai xứng đáng hơn Elon Musk. Ảnh: ED Times.

Jobs và Musk thuộc về thế giới khác hẳn phần còn lại của Thung lũng Silicon. Trong khi các công ty công nghệ đang phát triển theo đường tuyến tính từ 0 đến 10 theo một vòng lặp nhàm chán, sự xuất hiện của Jobs và Musk là con đường phi tuyến tính. Họ tìm kiếm một ngành công nghiệp tiềm năng, sau đó thiết lập lại các quy tắc truyền thống và làm một “vố ra trò” rồi leo lên đỉnh tháp danh vọng. Trong sinh học, có một thuật ngữ gọi là đột biến di truyền để miêu tả về bước nhảy vọt này. 

Nếu những người như Bill Gates là nhà cải cách, Jobs và Musk là những người làm cách mạng. Cải cách luôn có thể tìm ra ước số chung lớn nhất về lợi ích, còn cách mạng là thách thức các nhóm lợi ích hiện có. Đương nhiên, cách mạng luôn là con đường khó nhọc hơn nhiều.

Jobs và Musk có nhiều điểm tương đồng. Cả hai đều là dân nhập cư với giấc mơ Mỹ nồng cháy. Con đường của họ cũng vô cùng thú vị: đa màu sắc và nhiều trải nghiệm. Cả hai đều chọn một ngành công nghiệp truyền thống để làm “cách mạng” và thay đổi hoàn toàn thói quen cũng như hiểu biết của con người. Hơn hết, cả hai đều đạt được những thành tựu rực rỡ chưa từng có.

Luận về công tội, Steve Jobs và Elon Musk đều là những kẻ trái khoáy, lắm tài nhiều tật. Người yêu mến họ thì có vô số, nhưng người ghét bỏ, hoài nghi cũng không thiếu. Từ góc độ đổi mới, Jobs và Musk giống nhau. Nhưng từ góc nhìn thương mại, họ khác hoàn toàn. 

Hai thái cực ở Thung lũng Silicon

Hãy nhìn vào Jobs. Apple II, ra mắt năm 1977, là sản phẩm đầu tiên của Apple theo đúng nghĩa, bởi Apple I ra đời trong nhà để xe và chỉ bán được vài trăm chiếc. Nó thuộc về giai đoạn của Jobs và Wozniacki. Kể từ Apple II, cấu hình hàng đầu đã trở thành triết lý sản phẩm của Steve Jobs.

Cấu hình đầu bảng cũng đồng nghĩa với giá thành cao ngất ngưởng, Jobs biết và lựa chọn con đường này. Khi ra mắt, Apple II có giá 1.300 USD. Nếu tính theo giá lạm phát năm 2020, model này hiện có giá 5.300 USD. Cùng thời với Apple có một công ty sản xuất laptop cá nhân là Commodore. Model VIC-20 họ phát hành năm 1980 có giá 299 USD, rẻ hơn 1.000 USD so với sản phẩm của Apple. Tuy nhiên, bằng nhiều cách Steve Jobs vẫn thành công. Đến 1993, Apple II đã bán được hơn một triệu chiếc. Mặc dù lúc này Jobs đã rời Apple, chắc chắn nó mang lại cho ông nguồn cảm hứng mãnh liệt: Tốt nhất và đắt nhất.

Với Apple II, iPod, iPhone và các thiết bị sau này, Jobs vẫn trung thành với lựa chọn tốt nhất và đắt nhất. Ảnh: Apple Insider.
Với Apple II, iPod, iPhone và các thiết bị sau này, Jobs vẫn trung thành với lựa chọn “tốt nhất và đắt nhất”. Ảnh: Apple Insider.

Khi trở lại Apple, Jobs gây tiếng vang với mẫu iPod đầu tiên giá 399 USD. Khi đó, giá của Sony Walkman chưa đến 100 USD. Năm 2004, lợi nhuận ròng của Apple đạt 276 triệu USD, so với trước đó là 69 triệu USD. Điều này tiếp tục khẳng định lựa chọn bán sản phẩm với giá đắt đỏ của ông là đúng.

Đến năm 2007, iPhone thế hệ đầu tiên được thương mại hoá. Với thiết kế màn hình cảm ứng đa điểm đột phá, chiếc smartphone màn hình lớn có giá 500 USD. Khi mới ra mắt, iPhone là “điện thoại di động đắt nhất thế giới”. Doanh thu của iPhone chiếm một nửa thị trường di động toàn cầu.

Triết lý kinh doanh của Job là bán những thiết bị tốt nhất, trải nghiệm tuyệt vời nhất với giá đắt nhất. Con đường này không chỉ mang lại lợi nhuận mà còn gây dựng nên danh tiếng bền vững cho Apple.

Elon Musk, gã tỷ phú lập dị của làng công nghệ được ví như Iron Man ngoài đời thực. Ảnh: Sarah Lee/The Guardian.
Elon Musk, gã tỷ phú lập dị của làng công nghệ, được ví như Iron Man ngoài đời thực. Ảnh: Sarah Lee/The Guardian.

Nhưng Elon Musk thì ngược lại. Năm 2010, Falcon 9 của SpaceX ra mắt thành công với tổng chi phí sản xuất là 60 triệu USD, thấp hơn nhiều giá thị trường. Chìa khóa nằm ở việc tái sử dụng công nghệ, giúp chi phí phóng tên lửa giảm phân nửa so với truyền thống. Từ năm 2010 đến 2019, chi phí sản xuất tên lửa thương mại trên thị trường quốc tế đã giảm 25%, chủ yếu do SpaceX điều khiển.

Thống kê của NASA cho thấy chi phí gửi hàng hóa lên quỹ đạo Trái đất của SpaceX thấp đến kinh ngạc. Cụ thể, mỗi kg hàng hóa, Musk tính phí khoảng 1.950 USD, trong khi Salsa báo giá 7.246 USD và chi phí của tàu con thoi truyền thống là 19.842 USD. Chi phí để đưa một phi hành gia bay vào không gian của SpaceX khoảng 55 triệu USD, trong khi Boeing là 90 triệu USD. NASA từng trả cho Nga 86 triệu USD để đưa một phi hành gia bay vào vũ trụ. Tính trung bình, giá của Boeing cao hơn 60% so với SpaceX.

Rẻ hơn tất cả là triết lý kinh doanh của Musk. Điều này cũng đúng với cả mẫu xe điện nhắm vào phân khúc cao cấp. Tesla Model S bản đầu tiên có giá khoảng 100.000 USD. Sau đó Model X giá dưới 100.000 USD và đến Model 3, Tesla đã giảm xuống dưới 50.000 USD. Năm 2019, Model 3 có doanh số cao hơn tổng doanh số của tất cả dòng xe cỡ nhỏ và cỡ trung của BMW cộng lại. Đồng thời, Model S và Model X vẫn nằm trong top bán chạy nhất nước Mỹ.

Doug Hurley và Bob Behnken trong bộ trang phục phi hành gia hoàn toàn mới do công ty của Musk thiết kế. Họ đến Trung tâm Vũ trụ Kennedy bằng chiếc Tesla Model X để chuẩn bị cho nhiệm vụ đưa SpaceX thành công ty tư nhân đầu tiên đưa người vào không gian. Ảnh: AP.
Doug Hurley và Bob Behnken trong bộ trang phục phi hành gia hoàn toàn mới do công ty của Musk thiết kế. Họ đến Trung tâm Vũ trụ Kennedy bằng chiếc Tesla Model X để chuẩn bị cho nhiệm vụ đưa SpaceX thành công ty tư nhân đầu tiên đưa người vào không gian. Ảnh: AP.

Con đường Musk chọn là tập trung vào một sản phẩm cao cấp để làm thương hiệu, sau đó đánh chiếm thị trường bằng những model giá rẻ. Trong khi giá của iPhone ngày càng đắt đỏ, giá xe điện Tesla lại ngày càng rẻ.

Solar City, một công ty khác của Musk cũng đi theo con đường tiết kiệm tiền cho khách hàng. Họ cung cấp cho khách hàng những giải pháp phần mềm tốt nhất để tiết kiệm điện rồi mới bán đến các tấm pin năng lượng mặt trời do mình sản xuất.

Chủ sở hữu xe Tesla nghĩ rằng họ đã bước vào một lối sống mới và gia đình họ sẽ chuyển sang dùng năng lượng mặt trời bằng cách sử dụng các tấm pin năng lượng của Solar City.

Cả Steve Jobs và Elon Musk đều làm sản phẩm, bán lối sống. Nhưng họ chọn hai con đường trái ngược nhau và đạt được những thành công chưa từng có.

Khương Nha – Vnexpress

Đọc tiếp

Công nghệ

Hai năm ‘đau đầu’ của Twitter trước khi gắn cảnh báo Trump

Đã đăng

 ngày

Bởi

Quyết định có nên gắn cảnh báo vào các thông điệp của Trump đã được Twitter thảo luận trong nhiều cuộc họp suốt hai năm qua.

Vài năm gần đây, Twitter đối mặt với chỉ trích từ người dùng rằng mạng xã hội này thụ động và không nhất quán trong chính sách. Nhiều trong số 4.000 nhân viên Twitter cho rằng công ty và CEO Jack Dorsey tảng lờ những hoạt động có hại trên các tài khoản của người nổi tiếng, trong khi số khác lại lo ngại việc can thiệp vào những tài khoản này chẳng khác gì hành động kiểm duyệt nội dung.

Năm 2018, sau những phiên điều trần trước Quốc hội, Facebook đã ứng dụng AI và thuê hàng chục nghìn cộng tác viên chịu trách nhiệm duyệt nội dung và xác minh thông tin. Twitter cũng bắt đầu xóa hàng loạt tài khoản giả mạo, cấm những thông điệp mang tính thù địch.

CEO Twitter Jack Dorsey trong một hội thảo ở London năm 2019. Ảnh: Reuters.
CEO Twitter Jack Dorsey trong một hội thảo ở London năm 2019. Ảnh: Reuters.

Hai mạng xã hội này quyết định gắn cờ các nội dung vi phạm chính sách cộng đồng của mình. Tuy nhiên, từ năm 2019, hướng đi của hai bên bắt đầu khác biệt. Twitter tuyên bố cấm hoàn toàn các quảng cáo chính trị, còn Facebook chọn tiếp tục chấp nhận nội dung này, đồng thời khẳng định không phân biệt đúng sai đối với các thông tin chính trị. 

Cũng trong hai năm đó, các chính trị gia nổi tiếng như Tổng thống Mỹ Donald Trump hay Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi liên tục chọn Twitter là kênh truyền thông ưa thích để chia sẻ quan điểm, bình luận. Twitter cũng bắt đầu nhận thấy nhiều bình luận của các chính trị gia này xung đột với chính sách của công ty, mang tính xúc phạm hoặc gây ra các tác động có hại trong đời thực.

Nguồn tin thân cận với Twitter tiết lộ, đội ngũ nhân viên công ty nhiều lần họp riêng và không chính thức để thảo luận việc có nên áp dụng quy định của mình đối với các thông điệp của Trump hay không. Căng thẳng tiếp tục tăng lên trong những tuần gần đây khi Covid-19 lan rộng trên toàn cầu.

Một số nhân viên Twitter tin công ty cần thúc đẩy chính sách hạn chế nội dung mà họ cho là có hại, gây thù địch, kể cả khi thông điệp đó đến từ Trump – sở hữu tài khoản với hơn 80 triệu người theo dõi.

Đầu tháng 5, Twitter triển khai công cụ fact-check (xác minh dữ kiện) mới với mục đích gắn cảnh báo vào những thông điệp của người nổi tiếng mà họ cho là chưa chính xác nhưng không cần gỡ hoàn toàn nội dung. Công ty cho biết công cụ ra đời để xử lý các tin giả, sai lệch về Covid-19, nhưng có thể được mở rộng để áp dụng trong những trường hợp khác.

Ngày 20/5, Twitter thông báo tới đội ngũ của Trump rằng thông điệp về gian lận lá phiếu có nguy cơ bị cảnh báo fact-check. Trump đã xóa tweet này. Đến 26/5, mạng xã hội lần đầu tiên gắn công cụ xác minh dữ liệu vào hai tweet của Trump liên quan tới việc bỏ phiếu qua thư.

Theo WSJ, việc gắn fact-check này được Twitter quyết định một cách bất ngờ. Jack Dorsey cho biết: “Phải có ai đó chịu trách nhiệm về quyết định của công ty và đó là tôi”.

Đáp lại, ngày 29/5, Trump cho rằng hành động của Twitter ngăn cản tự do ngôn luận và ký sắc lệnh nhằm xóa bỏ “lá chắn pháp lý” vốn đang bảo vệ các mạng xã hội Mỹ nhiều năm qua. Tấm lá chắn này chính là Điều 230 của đạo luật về chuẩn mực truyền thông CDA, được ban hành năm 1996, phân biệt các nền tảng công nghệ với nhà xuất bản. Trong đó, mạng xã hội không phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với các nội dung mà người dùng đăng lên.

Trang Recode nhận định, nếu không có sự bảo vệ của Điều 230, Internet không thể vận hành như hiện nay, bởi các trang web hoạt động dựa trên sự đóng góp nội dung của người dùng sẽ biến mất. 

Dù vậy, nhiều nhà lập pháp Mỹ cũng cho rằng cần xét lại Điều 230 bởi các mạng xã hội không thể biện minh họ chỉ tạo ra nền tảng và “vô can” trước hoạt động của người dùng. Thời gian qua, Facebook, Twitter… cũng chịu nhiều sức ép, không chỉ ở Mỹ mà cả ở các nước khác, trong việc phải kiểm soát chặt chẽ hơn những thông tin sai lệch, thất thiệt… Giới công nghệ lo ngại, sắc lệnh, nếu có hiệu lực, sẽ mở đường cho hàng loạt vụ kiện nhằm vào các mạng xã hội.

Trong khi đó, đáp lại tuyên bố “mạng xã hội không nên làm trọng tài sự thật” của CEO Facebook, CEO Twitter khẳng định: “Chúng tôi sẽ tiếp tục chỉ ra những thông tin không chính xác hoặc còn tranh cãi về các cuộc bầu cử toàn cầu. Chúng tôi cũng sẽ sẵn sàng nhận sai lầm nếu mắc phải”.

Châu An (theo WSJ) – Vnexpress

Đọc tiếp
Advertisement

Facebook

Advertisement

Tin Nổi bật